Trang chủ » Văn học Trung đại Việt Nam

Category Archives: Văn học Trung đại Việt Nam

Hình ảnh người chinh phu trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn

Trong lịch sử văn học, ngâm khúc là một hình thức thơ ca cổ, gắn liền với âm nhạc, mang nội dung trữ tình, được ra đời trên cơ sở những lời ca điệu hát dân gian đời Kim và phát triển mạnh mẽ ở đời Nguyên.Ở Việt Nam ,những tác phẩm ở thể loại ngâm khúc là những bài thơ dài ,viết theo thể song thất lục bát ,có nội dung trữ tình chủ yếu để diễn tả tâm trạng,nói đúng hơn là để diễn tả tâm trạng buồn. Khi cuộc sống đòi hỏi phải có những thể loại lớn hơn để diễn tả bao quát,khi mà những thể loại thơ liêm luật chắt chẽ bó buộc cảm xúc con người thì người ta tìm đến ngâm khúc.Thể loại văn học này đạt đến thành tựu cao ở thế kỉ 18 bên cạnh thể hát nói ,và truyện Nôm, tiêu biểu như Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn,Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia  Thiều…. Những tác phẩm này thường được viết bằng chữ Hán mỗi câu thường hai vế ,phần lớn là đối nhau ,thỉnh thoảng có chen những vế lẻ.Trong mỗi vế không quy định số chữ, có câu ba bốn chữ, có những câu chín mười chữ, thông thường là bảy chữ.Tuy nhiên có những tán phẩm viết bằng chữ Nôm ,và những quy tắc về vần ,về đối không được tuân thủ một cách chặt chẽ.

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là một trong những tác phẩm mở đầu cho một giai đoạn văn học mới với những cảm hứng mới về con người đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội.Hiện tại về tác phẩm và tác giả vẫn chưa có thông tin chính xác, nhưng nhìn chung giới nghiên cứu đều thống nhất rằng tác phẩm được viết vào đầu niên hiệu Cảnh Hưng đời vua Lê Hiển Tông(1740- 1710). Đây là một thời kì loạn lạc với hai cuộc chiến tranh Lê -Mạc và Trịnh- Nguyễn.Chinh phụ ngâm là nỗi nhớ thương ,khát khao hạnh phúc lứa đôi của một nữ quý tộc trẻ có chồng ra trận.

Về vấn đề dịch Chinh phụ ngâm, theo như Phan Huy Ích  thì có bảy bản dịch Chinh phụ ngâm trong đó có ba bản bằng thơ lục bát và bốn bản bằng thể loại song thất lục bát.Còn ai đã dịch bản dịch hiện hành Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm hiện nay vẫn đang trong quá trình nghiên cứu và thẩm định.Tác phẩm sử dụng nhiều điển tích điển cố vì thế trong quá trình dịch tác phẩm để chuyển tải hết ý nghĩa của mỗi câu thơ là một vấn đề không hề đơn giản. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đối khi điều kiện nghiên cứu ngày càng cao thì những vấn đề tranh cãi về cách dịch tác phẩm càng thêm sôi nổi.

Trong tác phẩm, có hai nhân vật trữ tình :người chinh phu và người chinh phụ . Chinh phụ ngâm là tiếng lòng của người chinh phụ có chồng đi lính. Chính vì thế người chinh phu chỉ xuất hiện trong những hồi ức và trong sự mong nhớ của người vợ.Tuy nhiên ta cũng phần nào hình dung ra hình ảnh những người chinh phu trong xã hội phong kiến đương thời. Con người xưa theo Trần Đình Hựu đó là “con người chức năng trong xã hội luân thường”, mỗi người trong xã hội phong kiến đều “dĩ thánh hiền lập ngôn” và đều trong mối quan hệ ngũ luân. Tinh thần trung quân ái quốc được đề cao,vì thế trong xã hội xưa đấng trượng phu lấy công danh làm trọng :

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Đã là kẻ sĩ trong thiên hạ thì phải lấy việc phò vua ,giúp dân làm trọng. Đặng Trần Côn sống trong xã hội ấy cho nên trong tác phẩm của ông thấy thấp thoáng hình tượng tiêu biểu cho những con anh hùng trong xã hội phong kiến. Những con người lấy việc Tu, Tề , Trị ,Bình làm gốc. “Quân hứa quốc tâm như đơn”( đem quân giúp nước với tấm lòng đỏ như son) “Quân tì dân thân như thiết”(giúp dân che trở cho dân vì chí gan sắt lâu bền). Vì thế dù biết trước là đi lính là gian khổ :

“Cổ lai chinh chiến trường

Vạn lí vô nhân ốc

Phong ngao ngao hề đả đắc nhân nhan tiều”.

(Từ xưa tới nay nơi chiến địa, muôn dặm hoang vu không có người nhà ở.Chỉ có gió vội vã ào ào thổi làm cho khô héo khô dung nhan người).

Và ra chiến trường là hi sinh: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi”, thế nhưng những đấng nam nhi vẫn tình nguyện ra đi. Hình ảnh lúc xuất quân mang tính ước lệ,tiêu biểu cho hình ảnh của những quân sĩ thời phong kiến  “hành nhân trọng pháp khinh li biệt” .Hình ảnh ấy đẹp lộng lẫy ,oai phong:

“Quân xuyên trang phục hồng như hà

Quân kị kiêu mã bạch như tuyết”

(Hào hùng thay khi chàng mặc chinh phục màu hồng của ráng và cưỡi con ngựa kiêu hùng sắc trắng như tuyết ,ngựa đeo nhạc đầy đủ yên cương)

Tinh thần của chàng ngùn ngụt ý chí đánh giặc,trong tác phẩm nhiều lần tác giả nói đến ý chí lập công của những người lính trong xã hội xưa. Đó là:

“Trịch li bôi hề vũ Long Tuyền

Hoành chinh sóc hề chỉ hổ huyệt”

Cái chí khí vũ dũng của chàng khi quăng chén rượu li biệt,múa cây kiếm Long Tuyền (vốn là thanh kiếm quý của vua nhà Chu).Lại cầm ngang ngọn giáo chỉ vào hang cọp thề quyết.

Hay:

Vân tuỳ Giới Tử liệp Lâu Lan

Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện

Chàng noi gương ông Phó Giới Tử( người nước Tấn thời Xuân thu chiến quốc) đi bắt vua Đại Uyển là Lâu Lan. Chàng vui cười sẽ đến chốn Man Khê (thuộc đời nhà Hán,là quê hương của dân tộc Bản Hồ nay thuộc Quý Châu, Hà Nam) để luôn đàm chuyện anh dũng cảm Mã Viện.

Những đấng trượng phu trong xã hội ,mong học kinh nho để kinh bang tế thế, nếu có giặc thì chàng sẵn sàng ra đi. Và ra đi mà lòng vui vẻ ,tràn đầy hi vọng,có lẽ đó cũng là cơ hội cho mỗi người “lập danh”, trở thành những người “quân tử hữu vị” trong thiên hạ.Trong họ đang mong ước giết giặc lập công, được vinh danh cùng núi cùng sông,cho nên câu thơ có âm hưởng cũng khá trầm hùng:

Đầu bút nghiên hề sự cung đao

Trực bả liên thành hiến minh thánh

Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêu

Trượng phu thiên lí chí mã cách

Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao

Tiện từ khuê kổn tùng chinh chiến

Tây phong minh tiền xuất Vị kiều”

Từ giã bút nghiên theo việc đao cung,muốn đem mấy mươi thánh dâng lên vua.Kẻ trượng phu có cái trí tung hoành ngoài nghìn dặm, được lấy da ngựa bọc thây trốn trường .Tính mạng mình vốn coi nặng như Thái Sơn,nhưng vì dân, vì nước ,vì vua nên coi nhẹ như lông chim hồng.Phải từ giã chốn khuê phòng ra đi theo chinh chiến,vun vút roi ngựa theo ngọn giá Tây đến Vị Kiều.Với tư tưởng “xả sinh thủ nghĩa”,người quân tử có lẽ nào lại sợ cái chết ? Câu thơ có gì giống với câu thơ của L í Bạch :

Yên Nam tráng sĩ Ngô Môn hào

Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao.

Xếp bút nghiên là lấy theo tích của Ban Siêu , đời Hán Minh Đế. Ông vốn theo anh ghi chép sử nhưng khi nghe thấy Hung Nô cướp bóc tài sản của những người dân vùng biên cương , ông liền quăng bút đi và nói “Đại trượng phu phải như Trương Khiên , đi lập công ngoài biên giới ,chứ sao lại suốt đời ru rú trong thư phòng”.Về sau điển tích này được lấy để minh chứng lòng nhân nghĩa của những “kẻ sĩ” trong xã hội. Cái chí khí tung hoành của chàng khiến cho ta có lúc quên rằng đây là tiếng lòng thiết tha của người phụ nữ trẻ.

Tiếp theo người chinh phụ còn vẽ ra viễn cảnh ,chồng trở về trong khúc ca khải hoàn. Đó cũng chính là nguyện ước của người quân tử trong xã hội phong kiến:

Lặc thi hề Yên Nhiên thạch

Hiến quắc hề Vị Ương cung

Vị ương cung hề hướng thiên triều

Vãn Ngân hà hề tẩy đao cung

Từ nhân san hạ Bình Hoài Tụng

Nhạc phủ ca truyền nhập Hán dao

Lăng Yên các hề TẦn Thúc Bửu

Kì Lân đài hề Hoắc Phiêu Diêu

Trên hòn đá núi Yên Nhiên ghi lại công lao của chàng . Chàng lại dâng đầu giặc ở cung Vị Ương, cung Vị Ương nơi họp triều thần chầu vua .Lấy nước sông Ngân Hà để rửa sạch cung đao. Bọn nhạc công trong cung sẽ đặt bài ca “Tụng bình hoài” ,bài ca dao mới ,nơi nơi truyền bài ca nhập Hán .Vẻ vang danh chàng được ghi vào lăng Yên Các,chẳng thua kém gì Tần Thúc Bảo.Trên đài Kì Lân ,danh nghiệp công huân chàng cũng rực rỡ không kém Hoắc Phiêu Diêu được khắc tượng. Đó là ước muốn chung cho những con người sống trong xã hội phong kiến.Ta có thể tìm những hình ảnh này ở bất cứ tác phẩm văn học Nho giáo quan phương nào trong giai đoạn văn học trước.

Đặng Trần Côn đã xây dựng hình ảnh người chinh phu rất giống với những nhân vật trữ tình trong giai đoạn văn học trước ,mỗi nhân vật trong tác phẩm đều là những con người mang tính khái quát, cảm xúc chủ yếu xoay quanh vấn đề cứu nước ,giúp dân, và tình cảm chủ yếu xoay quanh “ngũ thường” Nhân ,Nghĩa ,Lễ ,Trí, Tín. Bên cạnh con người mang tính khái quát đó trong tác phẩm ta cũng biết đến một chinh phu cụ thể,có gia thế có địa vị trong xã hội. Đó là một con người riêng trong cái chung của toàn xã hội phong kiến. Người chinh phu đang ở độ thanh xuân  “Lương nhân nhị thập Ngô môn hào”(Chồng ta người thanh niên lương thiện ở tuổi 20,dòng dõi hào kiệt như Ngô Khởi).Hoàn cảnh gia đình cũng rất cụ thể:

“Quân hữu lão thân mấn như sương

Quân hữu nhi lang niên thả nhụ”

(Chàng có mẹ già tóc bạc như sương,chàng có con thơ tuổi đang măng sữa)

Có thể nói qua gia cảnh và qua tác phong ,qua ý chí chiến đấu của chàng,nhà thơ muốn xây dựng lên ở đây không phải là hình ảnh người lính bình thường mà là người anh hùng lí tưởng trong xã hội phong kiến.Nhưng cái mới ở đây chính là tính chất hiện thực của tình cảm, cảm xúc.Đó là con người  thanh niên trẻ tuổi cho nên cũng khát khao tình cảm,cũng có tình yêu hết sức mặn nồng.Qua những hồi tưởng của người chinh phụ về những cảnh yêu đương,quấn quýt ,“Tích vi hình dữ ảnh” (thiếp với chàng khi xưa như hình với bóng) ta hiểu rằng những con người chức năng đó cũng có những cảm xúc rất “người”.

Nếu như lúc ra đi đầy oai phong “khinh sự biệt li”, thì ở đây ta hiểu rằng chàng không hề là chỉ “con người chức năng” mà vẫn là một người giàu tình cảm.Cái khác nhau trong hình ảnh con người xã hội phong kiến trong từng thời kì là ở chỗ đó. Xã hội phong kiến vốn chiết toả tình cảm của con người trong mọi quan hệ, và gay gắt nhất là trong quan hệ nam nữ. Vì thế ta ít gặp được cùng một lúc hình ảnh một con người vừa oai phong lẫm liệt ,vừa có những cảm xúc yêu đương như ở đây. Tuy  rằng ở đây tác giả vẫn phải mượn những suy nghĩ của người vợ trẻ đang mong ngóng đức lang quân .

Trong tâm chàng vẫn nuôi giấc mơ đoàn viên.Trong những bức thư gửi về cho người vợ trẻ chàng cũng nhiều lần hẹn ngày về:

“Quân ước đỗ quyên đề

Đỗ quyên dĩ trục hoàng li lão”

Chàng hẹn khi chim đỗ quyên đã giục,chim oanh đã già(đã qua hè thu đông)

“Quân chỉ đào hoa hồng”

Chàng nói ngày chàng về vào độ hoa đào đã nở

“Dữ ngã ước hà sở

Nãi ước Lũng Tây sầm”

Lại nhớ cùng chàng hẹn thiếp nơi nào,chàng hẹn thiếp nơi núi đồi xứ Lũng Tây (thuộc vùng đất Quảng Tây Trung Quốc)

Nãi ước Hán Dương kiều

Chàng hẹn thiếp bên cầu Hàn Dương (tên vùng đất thuộc tỉnh Cam Túc)

Tích niên kí thư đính thiếp kì

Kim niên hồi thư đính thiếp quy

Năm ngoái thư gửi thiếp chàng có hẹn ngày về.Năm nay thư gửi thiếp chàng cũng hẹn ngày về

Không chỉ một lần hẹn ngày đoàn viên mà trong tác phẩm xuất hiện nhiều lần, người chinh phu thường hướng về nơi nhà nơi có người vợ trẻ đang ngóng trông từng ngày.Và chính chàng cũng khát khao cuộc sống bình yên,là người lính chàng hiểu rõ hơn hết sự vô lí của chiến tranh, giá trị của hạnh phúc gia đình bình dị. Người ra đi mà lòng biết bao bịn rịn,lưu luyến ,nhớ thương :

“Quy khứ lưỡng hồi cố

Vân thanh hề sơn thương

Lang cố thiếp hề Hàm Dương

Thiếp cố lang hề Tiêu Dương”

Người ở kẻ đi cùng mong ngóng nhau.Chỉ trông với nhau từ đám mây và dải núi xanh.Chàng mong ngóng thiếp từ Hàm Dương (kinh đô của nhà Tần thời Tần Hiếu Công (353TCN) ,nay thuộc thành phố Hàm Dương -Thiểm Tây ) .Thiếp mong ngóng thiếp từ Tiêu Dương ( tên sông ở tỉnh Hồ Nam do hai sông Tiêu và sông Tương hợp lại) Cho nên đằng sau vẻ đạo mạo phấn khởi lên đường đó vẫn là con người đầy mong nhớ. Trong xã hội phong kiến, những nhớ thương đó được liệt vào thói nữ nhi thường tình.Nhưng đó mới chính là con người thật sự. Một con người đang độ tuổi thanh niên, làm sao không có những cảm xúc yêu đương ấy. Vì họ là:

“Nhất cá thị phong lưu niên thiếu khách

Nhất cá thị thâm khuê thiếu niên hôn” (more…)

Nét cách tân trong thơ Tú Xương

Đất Thành Nam có hai đặc sản rất độc đáo, đó là chuối ngự và thơ Xương. Tương truyền ngay từ đời Trần chuối ngự được coi là đặc sản tiến vua. Đó là giống chuối nhỏ, mỗi quả chỉ bằng ngón tay cái nhưng màu chuối chín vàng rộm rất đẹp, cũng rất thơm, đã ăn rồi là khó quên hương vị. Thơ Xương chính là thơ Trần Tế Xương, một giọng thơ trào phúng đầu tiên của văn học Việt Nam sống vào cuối thế kỉ 19. Thơ Tú Xương không có cái vẻ bề ngoài bắt mắt giống như chuối ngự, hương vị cũng không ngọt ngào mà chỉ chua chát. Ngẫm lại trong văn chương để được lưu truyền hậu thế phải là cái gì đó thật tròn trịa, thật lưu loát, hoặc là cái gì đó thật khô ráp sần sùi. Cho nên chính cái giọng trào lộng đó lại hấp dẫn độc giả.

Giai đoạn cuối thế kỉ 19 là giai đoạn cuối cùng của dòng văn chương  trung đại.  Đây là giai đoạn tổng kết cho văn chương truyền thống và xây dựng những tiền đề cho văn chương hiện đại. Thơ Tú Xương bên cạnh mang đầy đủ những đặc điểm của văn học trung đại, đã bước đầu mang có những điểm của văn chương đổi mới. Để đánh giá vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng của Tú Xương trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam trước hết ta đi vào tính chất trào phúng trong thơ ông.

Văn học trào phúng đánh dấu sự phát triển của văn học Việt Nam, giống như một đứa trẻ chỉ khi đã đủ lớn thì mới biết cười, và để có được tiếng cười trào phúng lại phải đợi đến khi nó thực sự trưởng thành, có đủ nhận thức về ngang trái của cuộc sống, có ý thức vị trí cá nhân trong xã hội. Có thể nói phải đến thế kỉ thứ 19, khi con người cá nhân trong văn chương đã trưởng thành về nhận thức và trong thời buổi giao thời chứa đựng những mầm mống của một cuộc cách mạng xã hội thì văn chương trào phúng mới được khai sinh. Tú Xương có ảnh hưởng sâu đậm của cái cũ, lại bị cái mới tác động mạnh mẽ, bất giác sẽ nảy sinh thái độ “khinh khỉnh” của ông.  Chất trào phúng trong thơ Tú Xương bắt nguồn từ đặc điểm của hệ thống tư tưởng ảnh hưởng đến sáng tác văn học trung đại Viêt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ 19.

Đầu tiên, nói về Nho giáo, một hệ tư tưởng mang tính truyền thống, có lịch sử tồn tại lâu đời trong xã hội nước ta. Nho giáo chính thức được truyền vào nước ta vào khoảng thế kỉ thứ 2, sau đó trải qua thời kì Bắc thuộc với những chính sách đồng hóa, Nho giáo đã ăn nhập một cách gắn bó trong đời sống tư tưởng của nhân dân. Từ khi nhà nước phong kiến độc lập ra đời, với những ưu điểm trong việc ổn định trật tự xã hội, triều đình ra sức củng cố Nho giáo. Đến thời Lê – đỉnh cao của xã hội phong kiến, Nho giáo đã đạt đến cực thịnh, thậm chí vào thời vua Lê Thánh Tông Nho giáo còn chiếm vị trí độc tôn. Những thế kỉ tiếp theo, xã hội phong kiến bước vào giai đoạn suy đồi, vì thế Nho giáo có phần giảm sút, người ta bắt đầu có những hoài nghi đối với tính chuẩn mực của Nho giáo. Đầu thế kỉ 19, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, chấm dứt thời kì chia cắt kéo dài trong quá khứ, nhà nước phong kiến có được sự ổn định về hình thức. Nhà Nguyễn mong muốn đưa Nho giáo trở lại thời kì hưng thịnh như thời Lê, vì thế trong giai đoạn này Nho giáo lại được chấn khởi trở lại. Triều đình nỗ lực triển khoa giáo dục Nho học, cho in ấn lượng lớn kinh điển Nho giáo, sùng Khổng Tử hơn trước, tăng cường hoạt động tuyên truyền các quan niệm tư tưởng trung quân ái quốc và đạo hiếu. Đến  nửa cuối thế kỉ khi thực dân Pháp xâm lược, tích cực tuyên truyền tư tưởng và tôn giáo phương tây, thì Nho giáo đã bộc lộ một số  yếu kém, kìm hãm sự phát triển của xã hội, ngay cả vua cũng cảm thấy văn chương khoa cử không thể đào tạo nên nhân tài hữu dụng cho xã hội, song các Nho sĩ tử thủ hư văn, khó lòng thay đổi. Vì thế ảnh hưởng của Nho giáo hàng nghìn năm không dễ phai nhạt. Hơn nữa vào giai đoạn này, Việt Nam vẫn là một nước phong kiến, trong xã hội vẫn tồn tại một lực lượng đông đảo vốn xuất thân “từ cửa Khổng , sân Trình”, mang tư tưởng “trí quân trạch dân”. Cho nên Nho giáo vẫn là tư tưởng chủ đạo trong đời sống xã hội thời kì này.

Văn hóa Nho giáo – một thứ “văn hóa xấu hổ”, nhằm thức tỉnh lòng tu ố của con người, để con người tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội. Xã hội đó rất trọng cái danh, “danh bất chính, tắc ngôn bất thuận”, cho nên “nam nhi vị liễu công danh trái; tu thính nhân gian thuyết vũ hầu” . Chính vì thế trong giai đoạn này vẫn còn những nhà Nho “xịn”,  ngày đêm dùi mài kinh sử để mong ngày “hiển danh” để ra giúp vua, giúp nước. Vì thế Tú Xương cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng đó, cho nên ông cũng quyết một lần “vinh quy” :

“Ta phải trả xong cái nợ ta

Lẽ đâu chịu nợ mãi ru mà”

….

“Mở mắt quyết cho vua chúa biết

Đua danh kẻo nữa mẹ cha già.”

Thế nhưng thời thế đổi khác, năm 1858, sau khi đã nghiên cứu khá kĩ đặc điểm xã hội, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam. Bên cạnh những chính sách về chính trị, thực dân Pháp thực hiện những chính sách về văn hóa để tăng sự ảnh hưởng của người Pháp đến xã hội nước ta. Cùng với hàng hóa mới là lối sống mới, lối học mới, suy nghĩ mới được đưa vào đời sống xã hội. Chính sự hình thành của đô thị phong kiến phương đông, và sự ra đời của tầng lớp thị dân với tư tưởng và thị hiếu khác nhà Nho, cùng với tâm lí thời đại, tâm lí dân tộc tự chủ đã thực sự thu hút được những nhà Nho tài tử muốn thế hiện cái tôi, sự ý thức về cá nhân. Trước đây lựa chọn Nho giáo làm ý thức hệ tư tưởng có nghĩa là bước đầu tiên con người ý thức tới trách nhiệm, bổn phận của cá nhân trước tập thể cũng như sự tự ý thức về bản ngã. Sự thức dậy của ý thức cá nhân với ý nghĩa như một bản ngã độc lập phải đợi đến thế kỉ 18 dưới những tác động của từ nhiều phía trong đời sống xã hội và văn hóa mới hình thành. Con người cá nhân thức tỉnh và tự khẳng định mình bằng mọi cách, mà trước hết là những giá trị cá nhân. Nói như Trần Đình Hượu “Khi bộ cánh luân thường đã rách bươm, danh phận mờ mịt con người cá nhân hiện ra trần trụi”. Trong giai đoạn văn học này xuất hiện một thế hệ sống ngang tàng nằm ngoài khuôn phép. Luồng gió mới từ phương Tây thổi tới, mang theo những thứ lạ lẫm, mà khi chưa quen thì coi nó thật lố bịch, hợm hĩnh. Và đối với những nhà Nho vốn ôm ấp tư tưởng của Khổng Mạnh thì đời sống phương Tây hóa càng  “chướng tai, gai mắt”. Người ta nói rằng, Tú Xương học hành tử bé, rất chăm chỉ và rất thông minh. Thế nhưng hoạn lộ của ông không mấy suôn sẻ, công phu mười năm đèn sách, tám lần lều chõng nhưng chỉ đỗ tú tài:

Rõ thực nôm hay mà chữ dốt

Tám năm chưa khỏi phạm trường quy

(Buồn hỏng thi)

“Thế mới biết học tài thi phận, miệng đàn bà con trẻ thế mà thiêng

Nào ai gờ chữ tốt văn hay, tài bảng nhãn thám hoa lỡ ra cũng hỏng.”

(Phú hỏng thi năm Canh Tý (1900))

Vào thời điểm này, tuy đã có sự biến đổi nhưng mà triều đình mục nát, hiện tượng “sinh đồ ba quan” ở thế kỉ trước càng phổ biến hơn. Đạo học suy vi, lòng người thất vọng. Cảm giác thất vọng hòa lẫn với cái cao ngạo của nhà Nho thế là bật thành tiếng cười trào phúng trong thơ ông. Ông cười tất cả mọi thứ, từ vấn đề lớn như cái danh ảo do mua mà có, đến cái cái danh “tú tài”  “có tiếng mà không có miếng” của mình. Chất trào phúng thể hiện rất phong phú, từ  đề tài phú hỏng thi, phú thầy đồ dạy học đến chế người thi đỗ…

Trước hết về phương diện nội dung trong thơ Tú Xương có sự vận động của hệ thống chủ đề – đề tài và hình tượng văn học trung tâm. Trần Tế Xương có hướng nâng cao xã hội hóa, dân chủ  hóa đề tài . Không còn là những chủ đề thể hiện tấm lòng “minh triết bảo thân”, hay đề cao luân thường đạo lí của đạo đức phong kiến. Không còn là kiểu lấy cảnh ngụ tình như văn thơ đời trước mà là nhìn thẳng nói thẳng. Tú Xương là một trong số ít tác giả trong văn thơ trung đại hầu như không viết về thiên nhiên. Chủ đề  – đề tài trong thơ ông mang đậm chất hiện thực. Từ việc người ta học gì chơi gì, đến chuyện đời thường của chính nhà thơ. Nhân vật trong thơ Tú Xương là những cá nhân riêng cụ thể, là những con người có đủ danh phận, không còn là những nhân vật theo loại như trước kia. Vì thế ông không úp úp mở mở, nói bóng nói gió bình phẩm ai mà ông nhìn thẳng nói thẳng. Tổng quát hóa thơ Tú Xương có ba đề tài chính là là bức tranh Tây hóa, hình ảnh người phụ nữ và hình ảnh những nhà Nho trong xã hội đảo điên này.

Về phương diện nghệ thuật, trong thơ Tú Xương hình tượng nghệ thuật được xây dựng trên chất liệu hiện thực. Tất cả được đưa vào trong thơ ca không chút gọt giũa, nhà thơ đã để nó sần sùi khô ráp bước vào thơ văn. Chất trào phúng được thể hiện trong việc ông “khẩu ngữ hóa” văn chương, những câu những chữ được sử dụng rất ngông nghênh :

Văn chương nào phải là đơn thuốc

Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu

(Ông cử Nhu)

Có những chữ ông dùng rất xếch mé:

Ngủ quách sự đời thây kẻ thức

Chùa đâu chú trọc đã khua chuông

Mất đi cái học tầm chương trích cú, sính vận cổ với những lời lẽ rất thâm thúy, thay vào đó là sự nôm na gần gũi nhưng vẫn rất thơ – thơ trào phúng. Không còn là những “ lời vàng ý ngọc” trau truốt, sao cho văn như những bản nhạc du dương mà là những vần thơ bốp chát:

Ý hẳn thịt xôi lèn chặt dạ

Cho nên con tự mới thòi ra.

(Ngày xuân của làng thơ)

Sự thay đổi trong ngôn ngữ thơ đã có từ thơ Hồ Xuân Hương, nhưng đó là ngôn ngữ  “vênh váo” của một người phụ nữ muốn khẳng định vị trí trong xã hội nam quyền. Cái mà Xuân Hương muốn thể hiện chỉ “chủ nghĩa nam nữ bình quyền”, và thuộc về  “nữ quyền học”. Còn Tú Xương đó là sự “phá bĩnh” của một nhà Nho đang mất dần niềm tin với Nho giáo, là sự phản ứng với những thay đổi mau chóng của thời cuộc. Và cũng nhận thấy rằng, tuy mất niềm tin nhưng Tú Xương chưa từng có ý thức chống lại Nho giáo, tuy phán ứng với thực dân nhưng Tú Xương cũng chưa lên tiếng chống lại tư tưởng phương Tây, có chăng chỉ là sự nhạo báng xã hội “lai căng” “Tây hóa” mà thôi. Cho nên cũng có thể hiểu rằng cách nói ngông nghênh trào phúng đó của Tú Xương  xuất phát từ sự mất phương hướng trong tư tưởng.

Thống nhất trong các sáng tác giả luôn tự xưng là “ông”, không phải là “ta” thế hiện sự thống nhất của những cá thể trong xã hội “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ; người khôn người tới chỗ lao xao” (Nguyễn Bỉnh Khiêm), mà là “ông” để tách  riêng mỗi cá thể trong xã hội, để tự khẳng định giá trị của cá nhân. Sau này trong văn học hiện đại là những đại từ “tôi”, “anh”, “em”.

Bên cạnh những giá trị về văn chương trào phúng, tính hiện thực trong thơ Tú Xương thể hiện hết sức sâu săc.  Những sáng tác của ông là một bức tranh sinh động về xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Đó là một xã hội thành thị, đề cao giá trị của đồng tiền:

Chữ “y”, chữ “triện” không phê đến

Ông chỉ phê ngay một chữ tiền

Xã hội của đồng tiền xuất phát từ sự mục nát của xã hội phong kiến, sự suy đồi nhân cách của những người lãnh đạo. Xã hội ấy đã có từ trước cứ theo đà đó mà phát triển. Bạch Vân cư sĩ từng viết:

“Còn bạc còn tiền còn đề tử

Hết bạc, hết tiền, hết ông tôi”

Đến thời điểm hiện tại, khi kinh tế thị trường bắt đầu du nhập vào nước ta, thì những xấu xa của nó càng bộc lộ rõ.

Kẻ yêu người ghét hay gì chứ

Đứa trọng thằng khinh chỉ vị tiền

( Thói đời)

Trong xã hội ấy những giá trị bị tác động. Trước những tác động của chính sách văn hóa của thực dân Pháp, Nho giáo trở thành đối tượng bị tác động đầu tiên.Những năm cuối thế kỉ 19, học thuật của xã hội Việt Nam đang có những biến đổi cực kì sâu sắc. Những ấn tượng về sự tha hóa trong Nho giáo hết sức sâu sắc trong thơ, ông đau lòng khi chứng kiến “môn nhân” tự phỉ báng đạo mình :

Sơ khảo khoa này bác cử Nhu

Thực là vừa dốt lại vừa ngu.

Văn chương nào phải là đơn thuốc

Chở có khuyên xằng chết bỏ bu.

(Ông cử Nhu)

Người ta không chuyên tâm theo Hán học nữa, mà học nhiều cái mới: học chữ Tây, học chữ quốc ngữ, cả học chữ tàu, đó mới là thời thượng. Ngay cả Tú Xương đã có lúc “muốn bỏ văn chương học võ liền”. Những cái học khác có vẻ dễ dàng hơn  “chẳng sang tàu cũng tếch sang Tây”. Người ta đua nhau bỏ Hán sang Tây:

Mợ bảo vần Tây chẳng khó gì

Cho tiền đi học để chờ thi

Thôi thôi lạy mợ “xờ-căng” lạy

Mả tổ tôi không táng bút chì

(Không  học vần tây)

Từ những vấn đề của trường thi, của khoa cử, đến vấn đề về đạo đức văn hóa. Xu hướng Tây hóa bắt đầu hình thành, người ta học chữ Tây, làm việc cho Tây, lấy chồng Tây.  Những giá trị đạo đức truyền thống trong xã hội thay đổi. Bức tranh chuyển mình của xã hội trong một thành thị thu nhỏ, tất cả trở nên nhố nhăng:

Nhà kia lỗi phép con khinh bố

Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

(Đất Vị hoàng)

Còn đâu đạo phụ quân thần, phụ tử, phu phụ mà nhà Nho tôn thờ, còn đâu cái gọi là cương thường, rường cột của xã hội. Lối sống Tây hóa đang ảnh hưởng đến cuộc sống của người thành thị, chỉ đến thế kỉ này thì mới những cái thú chơi như thế. Lối sống Pháp đang làm cho những lối sống truyền thống dần bị mai một :

Răng chẳng nhuộm, vợ chẳng lấy, lụa là chẳng mặc

Mán chỉ làm đủ tiền tiêu vặt

Khi cao lâu, khi cà phê, khi nước đá, khi thuốc là, khi đủng đỉnh ngồi xe

Sự đời Mán chẳng buồn nghe

Nhuộm răng đen vốn là biểu tượng cho văn hóa Việt. Trong phong trào Tây Sơn lời hiệu triệu của Nguyễn Huệ khi đánh Thanh là :

“Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng”

Nhưng ngày nay âu hóa người ta “chẳng nhuộm răng để trắng dễ cười đời”, đó là dấu hiệu đâu tiên cho những cách tân trong lối sống của người Việt trong thế kỉ 20. Người ta nhận xét rằng chưa từng ở đất nước nào, trong vòng chưa đầy một thế kỉ (cuối thế kỉ19, giữa thế kỉ 20) mà đất nước có sự chuyển mình nhanh đến như vậy. Trong tất các lĩnh vực từ ngôn ngữ, giáo dục, văn học nghệ thuật…đến chính trị . Phải đến thế kỉ này thì trong văn chương mới có hình ảnh con người cá nhân tự do đến thế. Con người không còn bị cái trung hiếu bủa vây, không còn bị quan niệm  “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” kiềm tỏa. Người ta biết đến cà phê, nước đá, thuốc lá, xe hơi. “Sáng rượu sâm banh tối sữa bò”.

Trong khung cảnh xã hội đó có hai hình ảnh hết sức tiều biểu và sinh động , đó là hình ảnh người phụ nữ hiện đương đại và những nhà Nho “bất đắc chí”. Những nhà Nho là sản phẩm dư thừa của xã hội cũ, còn những cô gái  là sản phẩm của xã hội đương đại. Tú Xương để họ cạnh nhau làm tăng giá trị phản ánh hiện thực của những sáng tác của ông.

Về số phận của những nhà Nho trong buổi giao thời, Tú Xương có những khắc họa rất sinh động. Cả dân tộc vùng nên chống kẻ thù xâm lược, trong đội ngũ nhà nho có sự phân hoá: người theo Pháp, người chống Pháp, người thì trung lập vì khủng hoảng tư tưởng. Có những nhà Nho hăng hái chống giặc, nhưng rồi vì những hạn chế lịch sử nên chưa giành được thắng lợi, trong sự bế tắc và bất lực họ lánh vào cái tôi đầy ấm ức, để tự cười mình, tự xỉ vả mình, có ý thức xót xa về phẩm giá nhân cách của mình trong thời loạn. Dòng văn chương trào phúng được khai sinh, họ ẩn vào những cái cười hể hả là những giọt nước mắt đau đớn của tác giả với thời đại. Bức tranh của những nhà Nho – những người đang dần trở thành “những người muôn năm cũ” thể hiện chân thực và sinh động trong những trang thơ Tú Xương. Đó là cuộc sống của một ông “tú tài”, một ông quan ăn lương vợ.

“Lương vợ ngô khoai tháng phát dần”

(tự trào)

Những người mong “giữ vững cột càn khôn”, nhưng vì vô duyên với trường thi :

Hẳn có kẻ lo toan việc nước, vua chửa dùng tài

Hay không ai dạy dỗ đàn con, trời còn bắt hỏng

“Tiến vi quan đạt vi sư”, vì thế không ít người lỡ  dở chốn quan trường trở về làm những  cụ đồ nho ở xóm làng. Tú Xương tự chế diễu thân phận thầy đồ của mình Đó là lời lẽ của một kẻ sĩ bất đắc chí, có phần ngang ngạnh và tủi hổ:

Văn có hay đã đỗ làm quan, võng điều võng tía

Võ có giỏi đã ra giúp nước, khố đỏ khố xanh

Ý hẳn thầy văn dốt vũ dát

Lại vừa gàn vừa dở, cho nên thầy luẩn quẩn loanh quanh

(Phú thầy đồ dạy học)

Văn chương trung đại đã từng có “hàn nho phong vị phú” ngợi ca những phong vị của cảnh nghèo. Ở đây ta bắt gặp lại một cuộc sống khồn khó của một hàn nho, nhưng cái nghèo ở đây trở  thành nỗi ám ảnh trong tâm chí và đầy day dứt. Những cảnh gán nhà, chạy gạo nhiều lần xuất hiện :

Hỏi vợ vợ còn đi chạy gạo

(đau mắt)

Van nợ lắm khi trào nước mắt

Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi

(than nghèo)

Khách hỏi nhà ông đến

Nhà ông đã bán rồi

Không còn dáng vẻ lạnh lùng giống như khuôn hình của những nho gia thế kỉ trước, nhà thơ cũng điên lên vì nghèo đói “Bực chí anh hùng lúc túng tiêu” .Thậm chí trong lúc túng quẫn ông còn tếu táo bán cả những thứ không bán được :

“Danh giá nhường này không lẽ bán”

“Lúc túng toan lên bán cả trời”.

Cũng không còn cái thanh đạm vật chất “một giỏ cơm, một bầu rượu”  để giàu về đạo giống như Nhan Hồi. Nhà Nho bị cuốn vào cuộc đảo điên của xã hội.

Thế nhưng nghèo khó nhưng ông vẫn ăn chơi. Xã hội đang đảo điên vì ngọn gió Tây, xuất hiện những tiểu thương, tiểu chủ giàu có học làm sang. Nho gia chân chính, những  kẻ sĩ bất đắc chí bị đẩy ra ngoài  lìa xã hội, thế là ông lao vào cuộc ăn chơi, nhà Nho ăn chơi phải đúng cách của nhà Nho, phải khác với bọn kinh doanh buôn bán nhiều tiến mà ít học. Tiếp theo Nguyễn Công Trứ với những bài hát nói tả rất chi tiết buổi đi chơi, ta gặp lại dáng vẻ cao ngạo, phóng túng của nhà Nho buổi giao thời trong thơ Tú Xương. Ông hay tếu táo cho tài đổ bác, hát trầu văn của mình.

Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ

Rượu chè trai gái đủ tam khoang.

(Tự cười mình)

Ông đưa những thú vui vào trong thơ một cách mộc mạc không dấu diếm. Trên thực tế nghe hát, xem hát thời nào chẳng có. Thế kỉ trước những buổi đi chơi, tụ họp của nhà Nho thường vóng bóng trong thơ ca. Vì họ còn ràng buộc bởi cái luân thường mà xã hội đang tôn thờ, họ bị ràng buộc bới những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực đến mức khó có thể thật. Nhưng ở thời điểm này lại khác, không có cái gọi là “quân quân, thần thần” như trước thì vì cớ gì mà phải tránh né nữa. Vì thế Tú Xương cao ngạo viết:

Biết chi, cũng chẳng biết gì

Biết ngồi Thống Bảo, biết đi ả đầu

Biết thuốc lá, biết chè tầu

Cao lâu biết vị, thanh lâu biết mùi.

(Hỏi ông trời)

Hình ảnh người phụ nữ trong thơ Tú Xương khác hẳn với những người phụ nữ ta từng gặp trong văn chương trung đại. Những thế kỉ trước trong văn chương người phụ nữ thường ít xuất hiện. Nhà Nho chủ trương viễn nữ sắc: “sắc là giặc đam làm chi”. Cho nên nếu họ xuất hiện là đại diện cho những chướng ngại kiểu như những người đẹp làm khuynh thành khuynh quốc như Điêu Thuyền, Tây Thi…, hay là đại diện cho yêu ma, là mầm mống của hiểm họa như những câu chuyện trong Truyền kì mạn lục. Đến cuối thế kỉ 18, những biến đổi của xã hội đem đến sự vận động trong văn học hướng về cuộc sống chân thực của con người, các nhà nho nhân đạo chủ nghĩa như Nguyễn Du, Đặng Trần Côn đã có những lời bênh vực cho sắc đẹp và đề cao giá trị của người phụ nữ. Thế nhưng cảm hứng chủ đạo trong giai đoạn văn học này là “tài mệnh tương đố”, người phụ nữ hầu hết là những người tài, sắc có mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với giới thượng lưu, với khách phong tình trong xã hội. Đó là những ca nhi, cô đầu , kĩ nữ hay những chinh phụ… Phải đến Tú Xương thì người phụ nữ mới hiện lên đầy màu  sắc như thế. Đó là hình ảnh bà Tú “lặn lội mom sông” để chắt chiu tiền bạc “nuôi đủ năm con với một chồng”,  là người đảm bảo cuộc sống cho cả gia đình “tiền bạc phó mặc con mụ kiếm”. Rồi hình ảnh những cô gái đi buôn mới thật sinh động. Dưới ngòi bút của Tú Xương cái cô gái buôn thật ghê gớm:

Giời còn bể đó , tùy ngang dọc

Người phải cua đâu, chớ hãi hùng.

Buôn trứng những toan kề cửa lỗ

Sợ còng chẳng dám động chân lông.

(Vịnh cô cáy chợ Rồng)

Cái gọi là “công, dung ,ngôn, hạnh” đang có những thay đổi trong  hoàn cảnh mới. Tất nhiên trong mắt của một nhà thơ trào phúng thì có phần cường điệu hóa, nhưng trong buổi đương thời sao có thể có những cô gái sống trong cảnh “êm đêm chướng rủ màn che; tường đông ong bướm đi về mặc ai”, thời cuộc mới đã làm thay đổi con người. Tú Xương đặc biệt để ý đến những cô gái đi buôn và những cô gái lấy chồng Tây. Nói đến buôn bán đã là một cái ác cảm với nhà Nho rồi, lại còn là những cô gái đi buôn thì ấn tượng càng mạnh :

Nước buôn như chị  mới ăn người

Chị thấy ai mua chị cũng cười

Chiều khách qua hơn nhà thổ ế

Đắt hàng như thế mớ tôm tươi

Tiền hàng kẻ thiếu , mi thừa đủ

Giá gạo ai năm, tớ vẫn mười

(Gái buôn)

Tây vào nước ta chẳng bao lâu thế mà lấy chồng Tây đã trở thành “mốt” thời thượng. Nhà thơ có cái nhìn xếch mé vời những cô gái lấy chồng Tây:

Hẩu lố, khách đà ba bảy chú

Mét xì , tây cũng bốn năm ông

(Phòng không)

Cô Kí sao mà đã chết ngay

Ô hay, trời chẳng nể ông Tây

…..

Gớm thay cho những cô con gái

Mà vẫn đua nhau lấy các thầy.

(Mồng hai tết, viếng cô Kí)

Hình ảnh những cô gái đang bắt nhịp cùng thời đại, thật mới lạ trong văn chương. Tuy rằng với ngòi bút trào phúng thì họ hiện ra chẳng mấy tươi đẹp, nhưng trong một xã hội phương Đông gần 10 thế kỉ qua, phụ nữ ẩn mình trong chốn “hương vi”, và bị nhà Nho trói buộc trong hai chữ “tiết hạnh”, thì các cô đã mang đến một vận động lớn cho văn học. Các cô thật khác lạ với văn chương đài các, văn chương cử tử nhưng lại có phần gần gũi với văn chương bình dân.

Một trong những cảm hứng quan trọng thời kì này là cảm hứng yêu nước. Lồng ghép trong văn chương trào phúng  với những bức tranh sinh động về cuộc sống con người là tấm lòng yêu nước của tác giả. Tuy nhiên tình cảm yêu nước của nhà thơ được thể hiện rất thầm kín, ông không có những lời đanh thép như Nguyễn Trãi “bui có một lòng trung lẫn hiếu; mài không khuyết nhuộm không đen”, không phải là thể hiện trực tiếp “đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông” mà đó là lòng yêu nước được ẩn sâu trong những tiếng cười chua xót, trong những hoài niệm của nhà thơ . Ông thương xót số phận của con người, thương cho những người nghèo trong xã hội thực dân :

Họ đầy đọa mãi dân cày cuốc

Ai xét soi cho cảnh học trò

(Thề với người ăn xin)

Đôi khi được thể hiện trong những cái giật mình trong đêm “Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”, hay sự trằn trọc “Việc gì mà thức một mình ta”. Hay trong thắc mắc rất đơn giản:

“Nghe nói miền Nam trời đại hạn

Sao không san nước để cho vừa”

(lụt năm Bình Ngọ)

“Nhân tài đất bắc nào ai đó

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”

Tấm lòng yêu nước còn thể hiện trong những phiền muộn, bực tức :

Người bảo ông điên, ông chẳng điên

Ông thương, ông tiếc, ông hóa phiền,

(Thói đời)

Thái độ bất hợp  tác với thực dân Pháp, đau lòng với thực tại, Tú Xương không ít lần muốn chạy trốn. Ông muốn “đui con mắt” như Nguyễn Đình Chiểu :

Muốn mù trời chẳng cho mù

Giương mắt trông chi buổi bạc tình

( Đau mắt)

Hay tìm sự vỗ về của tôn giáo, để lẩn tránh thực tại, quên đi thực tế:

Gần chùa gần cảnh ta tu quách

Cửa phật quanh năm sẵn áo sồng

Tinh thần yêu nước của Tú Xương thể hiện rất phong phú với rất nhiều trạng thái cảm xúc. Nhưng đáng chú ý nhất ở Tú Xương tuyệt nhiên không còn tâm trạng chờ đợi “trông tin quan như trời hạn trông mưa”, với những thắc mắc “hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng” (Nguyễn Đình Chiểu) giống như những nhà Nho khác. Trong văn chương trung đại chủ đề trung quân ái quốc thường gắn liền với nhau:

“Sống đánh giặc  thác cũng đánh giặc

Sống thờ vua, thác cũng thời vua”

(Nguyễn Đình Chiểu)

Trong thơ Tú Xương không còn hình ảnh quân vương trong vai trò dẹp loạn. Ông cũng chưa một lần đề cập đến chuyện đánh Tây, mà ông có tâm lí chở đợi kết cục của những cuộc chuyển vần này ra sao:

“Sống lâu, lâu để làm gì nhỉ

Lâu để mà  xem cuộc chuyển vần.

Tú Xương nổi bật với dòng văn chương trào phúng, ông không giống như những nhà thơ yêu nước đương thời hướng ngòi bút vào ngợi ca lòng yêu nước của nhân dân. Không như Nguyễn Đình Chiểu để chống lại những  dòng tư tưởng mà Pháp đang tích cực tuyên truyền, ông quay về cố thủ trong tư tưởng Nho giáo, khẳng định những giá trị truyền thống của Nho giáo. Tú Xương đã nhìn thẳng vào thực trạng suy vi của Nho giáo và sự đồi bại của một số nhà Nho. Nếu như Nguyễn Đình Chiểu nhà văn thơ yêu nước của Nam Bộ hướng vào ngợi ca tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân, thì Tú Xương lại tìm cách bóc trần những thứ lai căng trong xã hội. Con người thành thị trong mắt ông đang tha hóa về chất. Nhưng có thể nhận thấy, những con người thành thị đó ta còn gặp lại ở những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, hay Nguyên Hồng. Mỗi văn nhân có một cách nhìn đời, không thể đánh giá ai tích cực ai tiêu cực mà chỉ nhận thấy rằng con mắt nhìn đời xếch mé luôn có sự so sánh với những gì tốt đẹp của cuộc sống. Ông đưa ra những cái lai căng nhưng đồng thời đã ngầm hướng người đọc đến cái bản sắc. Từ đây ta có thể hiếu, tại sao thơ Tú Xương trào lộng thế mà trở thành đặc sắc của vùng đất học Thành Nam.

————–———

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.