Trang chủ » Kinh học » Khái quát Thượng Thư học

Khái quát Thượng Thư học

Khái quát Thượng Thư học thường được tiến hành trên bốn phương diện: Văn bản và tình hình lưu truyền văn bản Thượng Thư thời Tiên Tần Lưỡng Hán; sự tranh chấp cổ văn Thượng Thư và kim văn Thượng Thư  thời kì Lưỡng Hán Ngụy Tấn Nam Bắc Triều; biện ngụy cổ văn Thượng Thư từ thời Tống đến nay và những tìm hiểu mới về cổ văn Thượng Thư. Trong bài viết này, chỉ đề cập đến hai vấn đề chính là Văn bản và tình hình lưu truyền văn bản Thượng Thư thời Tiên Tần Lưỡng Hán và sự tranh chấp cổ văn Thượng Thư và kim văn Thượng Thư  thời kì Lưỡng Hán Ngụy Tấn Nam Bắc Triều.

I. Văn bản Thượng Thư

  1. 1. Sự hình thành văn bản Thượng Thư

“Thư” là bộ điển tịch quan trọng được lưu truyền rất rộng rãi thời Tiên Tần, là tập hợp các văn kiện chính trị liên quan đến thể chế tổ chức nhà nước mà tác giả chính là sử quan các đời Ngu, Hạ, Thương, Chu nhưng chỉ có nhà Ân và nhà Chu là có sự kiện ghi chép rõ ràng, còn nhà Ngu và Hạ thì đã bị mất mát nhiều. Vào thời Tiên Tần chưa có tên gọi Thượng Thư mà chỉ gọi là Thư hay trước chữ “Thư” có thêm tên các triều đại như gọi trực tiếp là “Ngu Thư”, “Hạ Thư”, “Thương Thư”, “Chu Thư”… phải từ thời Hán trở về sau mới có tên là “Thượng Thư”, “Thư Kinh”.

Nhiều kinh sách[1] nghi lại người có công biên soạn Thượng Thư là nhà văn hiến học, giáo dục học vĩ đại đầu thời Xuân Thu – Khổng Tử, ngài đã chỉnh lý “Thư”, đưa “Thư” trở thành một trong những giáo trình chủ yếu giảng giảng dạy đệ tử. Tuy nhiên chỉ có thể khẳng định Khổng Tử là người có công biên soạn Thượng Thư nhưng không thể khẳng định các văn bản Thượng Thư về sau là thủ bút của Khổng Tử. Vì đây vốn là văn bản phức tạp và có luôn có sự bổ sung chỉnh sửa của sử quan và các nhà kinh học sau này.

1. 2.  Các văn bản Thượng Thư

Việc xác định văn bản Thượng Thư là một việc rất khó khăn bởi vì trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, vùng miền khác nhau, quốc gia khác nhau, bộ điển tịch quan trọng này rất có khả năng có nhiều bản chép tay khác nhau, số thiên trong “Thư” so với các bản chép tay “Thượng Thư” xuất hiện sau thời Hán cũng khác nhau rất nhiều. Căn cứ theo thống kê của các học giả, từ thời Tiên Tần đến nay là hơn 330 bản Thượng Thư.

Hơn nữa, văn bản Thương Thư cũng như các điển tịch khác chịu sự tác động nghiêm trọng trong một số biến động lịch sử, dẫn đến sự mất mát văn bản nguyên thủy, và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của nhiều văn bản Thượng Thư.

Đầu tiên là việc Tần Thủy Hoàng theo lời Thừa tướng Lí Tư thực hành chính sách  “phần thư khanh nho”, đốt hết kinh tịch các nhà, nghiêm cấm bách tính giữ riêng các điển tịch văn hoá như “Thi”, “Thư’ khiến cho việc sách lưu giữ trong dân gian bị đốt gần hết. Sách Sử Kí, phần Nho Lâm Truyện viết: “Đến thời Tần, đốt sách “Thi”, “Thư”, chôn thuật sĩ, “lục nghệ” cũng theo đó mà mất dần”.

Tuy nhiên vào thời Tần vẫn còn một số lượng kinh tịch đáng kế được cất giữ trong kho sách của nhà nước. Chỉ đến cuối thời Tần, Hạng Vũ đánh vào thành Hàm Dương, giết vương tử và con cháu nhà Tần, thiêu đốt cung thất nhà Tần, “lửa cháy ba tháng còn chưa dứt” … thì toàn bộ đồ thư hoàng gia nhà Tần bị đốt thành tro tàn. Đến lúc này  các bản “Thư” chép tay thời Tiên Tần gần như thất truyền.

Đến đầu thời Hán Văn Đế, nhà nước phải thi hành chính sách khuyến khích dân gian hiến sách, để mong có được kinh tịch các nhà. Chính vì thế về sau mới liên tục có nhiều bản chép tay “Thượng Thư” xuất hiện. Bản chép tay thời Hán ghi lại trong lịch sử có 8 bản gồm cả cổ văn và kim văn. Tuy nhiên, đến năm Vĩnh Gia thứ 5 đời Tấn Huệ Đế,  xảy ra loạn Vĩnh Gia[2], điển tích văn hóa của Trung Quốc chịu sự tổn thất nghiêm trọng. Sau loạn Vĩnh Gia, bản kim văn Thượng Thư của ba nhà, sau hơn 100 năm lưu truyền từ thời tây Hán cuối cùng thì đã mất.

Sau đó, trong dân gian xuất hiện văn bản Thượng Thư mới gọi là Khổng truyện cổ văn Thượng Thư, khi bản này xuất hiện, các loại văn bản cổ văn Thượng thư khác lưu hành từ thời Lưỡng Hán về sau, trong xã hội rất ít người hỏi đến. Theo “Tùy Đường – Kinh tịch chí” ghi lại, từ triều Tùy đến những năm đầu đời Đường,  Khổng truyện cổ văn thượng thư do nhóm Mã Dung, Trịnh Huyền, Vương Túc chú vẫn còn tồn tại, nhưng sau khi loạn An Sử, các loại văn bản Cổ văn Thượng thư ghi chép thời sơ Đường cũng lần lượt thất truyền. Chỉ còn lại bản của Mai Trách truyền lại cho đến ngày nay.

Theo ghi chép thì từng các văn bản Thượng Thư sau:

1. Phục Sinh bản

    Sở dĩ gọi là Phục Sinh bản vì bản này là vốn được Phục Sinh người đời Hán lưu truyền[3].

    Phục Sinh tức Phục Thắng là quan bác sĩ thời nhà Tần chuyên về  Thượng Thư. Khi nhà Tần có lệnh cấm lưu truyền sách trong dân gian thì cất giấu trong nhà một bộ. Sau khi hết loạn, Hán Huệ Đế ra chiếu kêu gọi hiến sách, Phục Thắng về nhà tìm lại sách Thượng Thư nhưng thấy mất mấy chục thiên, còn 28 thiên, đem ra truyền dạy ở Tề Lỗ. Như vậy thực chất  bản của Phục Sinh chính là văn bản Thượng Thư thời Tần. Thời Hán Văn Đế truyền đình không có văn bản Thượng Thư nên cho triệu Phục Sinh vào cung nhưng vì tuổi cao không đi lại được nên triều đình cử Triều Thố đến ghi lại văn thượng thư của Phục Sinh, nên gọi là Phục Sinh bản

    Văn bản Thượng Thư  do Phục Sinh truyền lại có tổng cộng 28 thiên. Mục lục 28 thiên này như sau:

    “Ngu Hạ thư” có 4 thiên: “Nghiêu điển”, “Cao dao mô”, “Vũ cống”, “Cam thệ”

    “Thương thư” có 5 thiên: “Thang thệ”, “Bàn canh”, “Cao tông đồng nhật”, “Tây bá kham lê”, “Vi tử”.

    “Chu thư” có 19 thiên: “ Mục thệ”, “Hồng Phạm”, “Kim đằng”, “Đại cáo”, “Khang Cáo”, “Tửu cáo”, “Tử tài”, “Thiệu cáo”, “Lạc cáo”, “Đa sĩ”, “Vô dật”, “Quân thích”, “Đa phương”, “Lập chính”, “Cố mệnh”, “Phí thệ”, “Lã hình”, “Văn hầu chi mệnh”, “Tần thệ”.

    Sau này trong dân gian phát hiện một thiên “Thái thệ” trong Thượng Thư . Trong  Biệt lục của Lưu Hướng đời Tây Hán có nói:  Cuối đời Hán Vũ đế, dân có được thiên “Thái thệ” trong bức tường, dâng cho Vũ đế. Vũ đế lại sai quan bác sĩ cùng đọc, trình bày ra, mấy tháng thì xong, truyền đi dạy người.

    Vương Doãn Diệc thời Đông Hán có ghi chép: Đại khái bản “Thượng thư” có khoảng 100 thiên, Khổng Tử truyền lại. Gặp phải lúc nhà Tần dùng lời tấu nghị của Lí Tư, thiêu đốt ngũ kinh, Phục Sinh người Tế Nam ôm trăm thiên cất trong núi. Thời Hiếu Cảnh Hoàng đế, bắt đầu lưu trữ sách “Thượng thư. Phục Sinh lấy từ trong núi ra. Cảnh Đế sai Triều Thố đến đó nhận được lại hơn 20 thiên “Thượng thư”. Phục Sinh già chết, “Thư” bị tàn khuyết. Triều Thố truyền cho Nghê Khoan. Đến thời Hiếu Tuyên Hoàng đế, một người con gái Hà Nội phát hiện trong nhà cũ một số thiên dật thư của các kinh  “Dịch”, “Lễ”, “Thượng thư”, dâng lên vua. Tuyên đế hạ chiếu giao cho các Bác sĩ, sau đó “Dịch”, “Lễ”, “Thượng thư” đều tăng thêm một thiên, vì thế định ra “Thượng thư” có 29 thiên.

    Một thiên Thượng thư mà Nữ Tử ở Hà Nội hiến tặng là thiên Thái thệ. Liên quan đến thời gian phát hiện thiên Thái Thệ, 2 cuốn sách ghi chép có sự sai biệt. Lưu Hướng nói những năm cuối thời Hán Vũ Đế, Vương Sung thì nói ở thời Hán Tuyên Đế, còn có người cho rằng ở thời Hán Cảnh Đế. Những tình tiết ghi chép tường tận cụ thể và địa điểm phát hiện thiên này cũng có sự khác nhau. Vấn đề thiên Thái Thệ tương đối phức tạp, liên quan đến vấn đề chân ngụy và quá trình lưu truyền của Thiên Thái Thệ, tiên sinh Trần Mộng Gia ở trong “ Thượng Thư  thông luận” có luận thuật rất chi tiết rõ ràng.

    Về vấn đề chân ngụy của văn bản, dựa vào ghi chép sách Hán Thư – Nho lâm truyện thì Phục Sinh tuổi đã cao, lời nói không rõ ràng, Triều Thố nghe không hiểu. Phục Sinh nói với con gái rồi bảo con nói lại cho Triều Thố nghe. Mặc dù như thế, Phục Sinh là người nước Tề, mà Triều Thố là người đất Dĩnh Xuyên, phương ngôn hai vùng khác nhau tương đối lớn, nên điều mà Thố không biết có đến 12, 13 phần, nên  chỉ lược lấy những ý đọc được mà thôi. Như  thế văn bản Thượng Thư của Phục Sinh mà Triều Thố ghi lại cũng không phải là bản Thượng Thư hoàn chỉnh và hoàn toàn đúng với nguyên bản.

    2. Hà Gian Hiến Vương bản

      Sở dĩ gọi là Hà Gian Hiến Vương bản bản này được ghi nhận là của Hà Gian Hiến Vương Lưu Đức.

      Hà Gian Hiến Vương tên thật là Lưu Đức là một trong 14 người con của Hán Cảnh Đế, trừ Hán Vũ Đế Lưu Triệt kế thừa ngôi vị thì 13 người con đều được phong làm vương, trong Hán Thư gọi là  “Cảnh 13 Vương”.  Lưu Đức được phong đất ở Hàn Gian, ban tước hiệu là Vương, sau khi mất được đặt thụy hiệu là Hiến nên gọi là Hà Gian Hiến Vương Lưu Đức. Ông là người coi trong học thuật, có một số lượng lớn tân khách, lại có sở thích sưu tầm cổ thư nên có môt số lượng lớn sách cổ, Tư Mã Thiên và Ban Cố rất đề cao[4].

      Về lai lịch của Hà Gian Hiến Vương bản, sử ghi lại rằng vào thời Vũ Đế, Hà Gian Hiến Vương Lưu Đức từ trong dân gian ông có được một tàn bản cổ văn Thượng Thư dùng văn tự cổ thời Tiên Tần. Hán Thư – Cảnh thập tam vương truyện ghi: “Sách mà Hiến Vương có được đều là sách cũ của cổ văn thời Tiên Tần. “Chu quan”, “Thượng thư”, “Lễ”, “Lễ Ký”, “Mạnh Tử”, “Lão tử” đều là kinh truyện thuyết kí, là luận bàn của 70 học trò.”

      Về thiên mục của văn bản, vì Hà Gian Hiến Vương coi bộ tàn bản cổ văn Thượng Thư may mắn tránh được nạn đốt sách của nhà Tần như vật báu nên giữ bí mật không chỉ cho mọi người nên ảnh hưởng của bộ sách này đến xã hội đương thời và giới học thuật đều không lớn. Bởi thế bản cổ văn Thượng Thư của Hà Gian Hiến Vương tổng cộng có bao nhiêu thiên, là những thiên nào, văn bản chép tay này với các bản chép tay cổ văn Thượng Thư khác có mối quan hệ gì thì hiện nay cũng không được khảo chứng. Nhưng ngờ rằng bản này là một bản khuyết thiếu và có thể là tân bản.

      3. Khổng bích bản

        –                     Sở dĩ gọi là Khổng bích bản vì bản này được Lỗ Cung Vương Lưu Dư tìm ra trong vách nhà cũ của Khổng Tử.

        Lỗ Cung Vương Lưu Dư cũng là một trong 13 người con của Hán Cảnh Đế. Căn cứ vào ghi chép trong Hán Thư Cảnh thập tam vương truyện thì Lỗ Cung Vương Lưu Dư thích xây dựng nhà cửa; rượu chè săn bắn. Một lần ông muốn phá nhà cũ của Khổng Tử đế xây dựng nhà cửa, vô tình phát hiện ra bản Thượng Thư trong vách nhà họ Khổng[5].

        Chữ viết trong bản Khổng bích cổ văn Thượng Thư là dùng chữ khoa đẩu[6] văn để sao chép. Chữ khoa đẩu chính là văn tự cổ thời Tiên Tần, có một sự khác biệt lớn so  với chữ Lệ đang thông hành đời Hán, từ khi nhà Tần thống nhất sáu nước đến cuối thời Hán Vũ Đế đã trải qua hơn 130 năm lịch sử. Lúc Khổng bích bản được phát hiện, đã rất ít người biết chữ này. Theo trong Hán Thư –  Nghệ Văn Chí thì : “Khổng An Quốc là hậu duệ của Khổng Tử, có được sách này, khảo xét thấy có 29 thiên trùng với Kinh văn, và nhiều hơn 16 thiên. An Quốc dâng cho triều đình, gặp nạn Vu Cổ, chưa được lập ở quan học.”

        Như vậy Khổng bích bản gồm có 29 thiên giống với Kim văn và thừa ra 16 thiên; 16 thiên này viết bằng chữ khoa đẩu, khó đọc nên Khổng An Quốc bó lại cất đi, gọi là Dật thư. Còn 29 thiên kia ông chuyển sang chữ lệ để lưu hành (Lệ cổ định) và ông còn viết truyện ở dạng cổ văn để dâng lên nhà vua. Nhưng lúc đó có nạn vu cổ, triều đình lục đục, nên văn bản chỉ được truyền trong dân gian.

        Khổng bích bản bao gồm 29 thiên trong Kim Văn Thượng Thư, ngoài ra so với  Kim Văn Thượng Thư thì nhiều hơn 16 thiên. 16 thiên đó là:

        Ngu hạ thư” 7 thiên: Thuấn điển, Mịch tác, Cửu cung, Đại vũ mô, Ích tắc, Ngũ tử chi ca, Dận chinh,

        Thương thư” 6 thiên: Thang cáo, Hàm hữu nhất đức, Điển tân, Doãn huấn, Tứ mệnh, Nguyên mệnh.

        Chu thư”  3 thiên:  Vũ thành, Lữ  ngao, Đồng mệnh.

        Về sự tồn tại của văn bản, có mốt số người cho rằng Khổng bích bản chính là Khổng thị bản. Vì theo ghi chép của Hán thư nghệ văn chí ghi lại thì vào năm mà Khổng bích bản được phát hiện hiện, thì “Khổng An Quốc là hậu duệ của Khổng tử, nhanh chóng có được sách này”. Có nghĩa Khổng An Quốc đã kiểm định Khổng bích bản như đã nói ở trên. Nhưng căn cứ vào ghi chép của Sử kí” Khổng Tử thế gia thì Khổng An Quốc là hậu duệ 20 đời của Khổng Tử.  Khổng An Quốc giữ chức bác sĩ lúc bấy giờ, đến Lâm Truy giữ chức thái thú, mất sớm. Theo các học giả khảo chứng, Khổng An Quốc có lẽ chết ở khoảng những năm đầu thời Hán Vũ Đế, mà Khổng bích bản lại được phát hiện cuối thời Hán Vũ Đế, lúc đó Khổng An Quốc đã chết, tại sao lại có thể “Có được sách này” “, lại tại sao có thể “ khảo 29 thiên “. Có thể thấy ở trong Hán thư nghệ văn chí, việc này chưa chắc đã tin được. Một số học giả căn cứ vào đây lại thêm việc Sứ kí không có sự ghi chép về Khổng bích bản rút ra kết luận Khổng bích bản cũng là Khổng thị bản.

        Điều này cũng không hoàn toàn hợp lí vì việc Sứ kí không ghi lại việc phát hiện Khổng bích bản có thể giải thích như sau: trong “Thái sử công tự tự” Tư Mã Thiên viết: “Ta thuật lại từ Hoàng Đế đến nay cho đến hết Thái Sơ, tổng 310 thiên.” Hán Vũ Đế ở ngôi 54 năm, tổng cộng dùng 12 niên hiệu,  Thái Sơ là niên hiệu thứ 7 của Hán Vũ Đế, niên đại của Sử kí làm từ năm 104- 101 Tr.CN. Khổng bích bản phát hiện ở cuối đời Hán Vũ Đế, ước đoán sau thời Thiên Hán năm 100 TCN- 97 TCN, cho nên Tư Mã Thiên trong Sử Ký không ghi chép rõ sự việc ấy.

        Hơn nữa liên quan đến Khổng Bích Cổ Văn Thượng ThưKhổng Bích đồ thư, ngoài thiên “Nghệ văn chí” và “Cảnh thập tam vương truyện” trong Hán thư ra, những văn hiến thời Lưỡng Hán và Ngụy Tần  ghi chép rất nhiều, như tác phẩm “Di nhượng thái thường bác sĩ thư” của Lưu Hâm, thiên “Luận hành –  Chính thuyết” và thiên “Dật văn” của Vương Sung, “Tiền Hán kỷ –  Thành Đế kỉ” của Tuân Duyệt, “Thuyết văn giải tự tự” của Hứa Thận , “ Hậu Hán kỉ – Chương đế kỉ” của Viên Hoằng, “Ngụy thư – Lưu Thiệu truyện” của Ngụy Thu… Nhưng ghi chép của các nhà về mặt chi tiết đều có nhiều sai khác.

        Ở trong bức vách cũ nhà Khổng Tử phát hiện ra một số lượng lớn Kinh truyện cổ văn, đó là sự kiện lớn của thời kì đó, có ảnh hưởng rộng, nhưng cùng với thời gian, tư liệu ghi chép sự việc ấy ngày càng nhiều lên. Càng về sau này ghi chép về cùng một sự kiện càng khác nhau, tình trạng như vậy trong lịch sử cũng thường thấy. Vì thế, liên quan đến thời gian phát hiện ra Khổng bích bản, các loại văn hiến phát hiện trong bức tường, cụ thể số thiên của các loại văn hiến, ghi chép của các nhà có một chút sai lệch, đó là điều khó tránh khỏi. Nếu chỉ dựa vào sự không hợp lí trong ghi chép của Hán thư mà phủ nhận sự tồn tại của Khổng bích bản là có phần  không hợp lí. Từ đó suy ra Khổng bích bản và Khổng thị bản là hai văn bản khác nhau.

        4. Khổng thị bản

          Sở dĩ gọi là Khổng Thị bản tức Tàng bản nhà học Khổng là vì đây bản chép tay cổ văn thượng thư được hậu duệ Khổng tử là Khổng An Quốc cất giữ  .

          Về số thiên mục của cuốn sách  Sử kí – Nho lâm truyện nói : Nhà họ Khổng có cổ văn thượng thư, mà An Quốc dùng kim văn để đọc. Ông lấy sách cổ trong nhà mình ra so với kim văn thì thấy Dật thư dư ra hơn chục thiên, có lẽ Thượng Thư nhiều lên từ đó. Như vậy Khổng thị bản có 29 thiên trùng với kim văn và hơn 10 thiên dư ra.

          Về sự tồn tại của văn bản, Sử kí ghi lại Khổng thị bản đáng tin cậy vì Tư Mã Thiên từng theo học Khổng An Quốc, nên cổ văn Thượng Thư trong nhà Khổng An Quốc rất có thể Tư Mã Thiên đã nhìn qua. Cho dù là chưa nhìn qua, nhà Khổng An quốc là không có cổ văn thượng thư thì một việc trọng đại như thế, Tư Mã Thiên không thể không biết rõ. Căn cứ vào những suy đoán trên, tàng bản trong nhà họ Khổng rất có thể là bản chép tay thượng thư mà các ông tổ đời trước nhà họ Khổng truyền lại cho con cháu đời sau. Khổng An Quốc đối với tàng bản trong nhà đã lấy “ kim văn để đọc nó”, giải thích các hàm ý trong tàng bản nhà họ khổng, còn có cả các thiên kim văn thượng thư mà Phụng sinh truyền thụ. Còn về sự khác biệt trên các phương diện nội dung, thiên mục trong tàng bản nhà họ Khổng so với các bản chép tay khác, chúng ta khó biết được rõ ràng.

          5. Trung bí bản

            Sở dĩ gọi là Trung bí bản hay Trung cổ văn bản vì đây là bản chép tay cổ văn Thượng Thư được bí mật cất giữ trong thư viện hoàng gia. Chữ “Trung” là chỉ bên trong nội cung của hoàng thượng. Trong sách “HánThư – Nho lâm truyện”, Nhan Sư Cổ chú rằng: “Trung thư, thiên tử, sở tàng chi thư dã” (trung thư chính là nơi cất giữ sách của Thiên tử). Bản chép tay Thượng thư được lưu giữ trong thư viện hoàng gia đời Hán tất nhiên là không chỉ có cổ văn Thượng Thư mà có cả các văn bản của Kim văn thượng thư. Nhưng Trung bí bản hay Trung cổ văn bản mà chúng ta nói ở đây chỉ riêng bản chép tay cổ văn Thượng Thư của thư viện hoàng gia.

            Sách “Hán thư – Nghệ văn chí” nói về sự tồn tại của Trung bí bản: Lưu Hướng lấy trung cổ văn so sánh với kinh văn của ba nhà là Âu Dương, Đại Hạ Hầu và Tiểu Hạ Hậu.” Lưu Hướng, Lưu Hâm nối tiếp nhau làm quản lí kho sách bí mật của hoàng cung trong các năm cuối thời Tây Hán, thường dùng Trung bí bản hiệu đính các sách khác, qua sự hiệu đính của Lưu Hướng mới phát hiện sự mất mát thẻ tre của ba nhà Kim văn Thượng Thư và sự khác biệt về văn tự của cổ văn Thượng Thư.

            Về thiên mục của Trung bí bản sách “Hán thư – Nghệ văn chí” ghi chép như sau: Lưu Hướng lấy trung cổ văn so sánh với kinh văn của ba nhà là Âu Dương, Đại Hạ Hầu và Tiểu Hạ Hậu, thầy thiên “Tửu Cáo” thiếu mất một thẻ, “Thiệu Cáo” thiếu mất 2 thẻ. Nếu mỗi thẻ mất 25 chữ, mất đi 25 chữ, thẻ 22 chữ thì cũng mất đi 22 chữ, số chữ khác là hơn 700 chữ, chữ mất có vài chục. “Thư” là hiệu lệnh của thời xưa, ra lệnh cho chúng dân, mà lời nói không đầy đủ, thì người nghe lệnh thi hành sẽ không rõ ràng. Cổ văn đọc ứng với “Nhĩ Nhã”, cho nên có thể hiểu được lời nói của xưa nay nên có thể biết được.”

            Ngoài sự chênh lệch 700 chữ, khuyết thiếu mất một số thẻ tre, thì bản cổ văn tách 29 thiên thành 34 thiên, và 16 thiên dật  thư phân thành 24 thiên nên tổng có 58 thiên.

            Xét đến diện mục của văn bản thì  mặc dù không chỉ Hán thư – Nghệ văn chí mà cả “Hán thư – Nho lâm truyện” từng ghi chép việc dùng sách trong thư viện bí mật của hoàng cung để hiệu đính “102 thiên” mà Trương Bá dâng lên; nhưng rút cuộc là bản cổ văn Thượng Thư trong trung bí bản đến từ nơi nào, lịch sử ghi chép không rõ ràng, có người cho rằng bản Trung Bí bảnKhổng Bích bản có liên quan đến nhau. Rất có thể là sau khi Khổng Bích bản phát hiện, người nhà họ Khổng dâng cho triều đình hay sao một bản phụ dâng lên triều đình. Cũng có người cho rằng là do dân gian dâng tặng, Hán thư  – nghệ văn chí” từng ghi: “Qua thời Hán Vũ Đế, sách khuyết thẻ tre bị mất, lễ suy đồi, nhạc băng hoại, thánh thượng xót xa mà nói: Trẫm thật lo lắng thay”, thế là dựng lên nhà sách tàng thư, xếp đặt quan chép sách, ra chiếu là từ các chư tử truyền thuyết, đều cho vào mật phủ”. Đến đời Hán Vũ Đế, đã xuất hiện mấy Thượng Thư không giống nhau, vì thế thư viện hoàng gia cất giữu bí bản cổ văn Thượng Thư là rất bình thường.

            6. Trương  Bá  bản.

              Sở dĩ gọi là Trương Bá bản (hay còn gọi là Bách Lưỡng Thiên (102 thiên)) vì đây là bản do Trương Bá dâng lên triều đình. Vào thời Hán Thành Đế, trọng thưởng cho dân chúng dâng nộp cổ thư, đồng thời triệu hội những người trong thiên hạ có thể giảng giải được Thượng Thư. Trương Bá ở Đông Lai đã dâng nộp ra một bộ Thượng Thư, bộ Thượng Thư ấy bao gồm Thư tự với tổng cộng bao gồm là 102 thiên, cho nên gọi là Bách lưỡng thiên. Trương  Bá còn nói rằng có thể giảng giải Thượng Thư , thế là bản thân Trương Bá cũng được mời gọi vào triều đình.  Trong sách “Hán Thư – Nho Lâm  truyện” ghi: Bách lưỡng thiên mà người đời truyền, bắt đầu từ Trương Bá ở Đông Lai, phân chia tách hợp 29 thiên làm ra mấy chục thiên, lại lấy ở “ Tả thị Truyện, Thư tự” làm đầu cuối, tất thảy là 102 thiên…

              Văn bản này có 102 thiên, về con số 102 thiên có thể là Trương Bá dựa vào ghi chép trong Vĩ thư nói là Khổng Tử nhận được từ Huyền Tôn Hoàng Đế là Đế Khôi một bộ Kinh Thư 3240 thiên, sau đó san  định thành 120 thiên trong đó có 102 thiên Thượng Thư và 18 thiên Trung Hầu. Tuy rằng con số 3240 là khó tin nhưng con số 102 thiên Thượng Thư là có thể.

              Về vấn đề chân ngụy, sau khi Trương Bá dâng 102 thiên Thượng Thư Hán Thành Đế liền đưa cho Lưu Hướng – người quản lí trung bí đồ thư (thư viện bí mật của hoàng cung) để giám định. Lưu Hướng làm quản lí Trung bí đồ thư đã nhiều năm, có thể nói là chuyên gia có uy quyền về giám định cổ thư đương thời. Ông cẩn thận đối chiếu bản Bách lưỡng thiên mà Trương Bá dâng lên với bản Trung Bí đồ thư, tính giả mạo của văn bản Bách lưỡng thiên nhanh chóng bị phát hiện[7]. Trương Bá vì thế bị bỏ vào ngục vì tội lừa vua và đại bất kính, suýt chút nữa bị mất mạng.

              Hóa ra Trương Bá chia tách rồi hợp lại 29 thiên của Thượng Thư làm thành mấy chục thiên, lại lấy thêm các đoạn trong “Tả truyện” để làm thành sách, dựa vào những truyền thuyết trước đây để làm thành 102 thiên . Hành vi làm giả vốn không thể tha thứ, nhưng vì Hán Thành Đế thương tiếc cho tài hoa của Trương Bá, tha cho Trương Bá tội chết, lại thấy rằng Bách lưỡng thiên tuy là sách ngụy tácn nhưng vẫn có giá trị bảo lưu cho nên mới không thiêu hủy.[8] Vương Sung trong thiên  Luận hành – Cảm Loại từng dẫn dụng nguyên văn 120 thiên của Trương Bá, chứng minh thời Đông Hán Bách lưỡng thiên của Trương Bá vẫn còn.

              7. Đỗ Lâm bản

                Đỗ Lâm bản hay còn gọi là Tất thư, đây là văn bản bằng thẻ tre viết bằng sơn được Đỗ Lâm phát hiện và dâng lên triều đình.

                Đỗ Lâm tên tự là Bá Sơn, người Mậu Long, Phù Phong, là danh sĩ thời Đông Hán, thời Quang Vũ Đế từng làm chức Quang Lộc Huân, Đông Hải Vương Phó, làm quan đến chức Đại tư không.  Đỗ Lâm xuất thân trong một gia đình quan học và rất có danh tiếng[9]. Đỗ Lâm rất thích cổ văn, từng tại Tây Châu có được một bản cổ văn Thượng Thư, cho là vật báu bất li thân. Đương thời việc này có rất nhiều ảnh hưởng, nhưng nội dung và số thiên chương của văn bản này thì không được ghi lại.

                Những người học trước thường lấy tác phẩm Thượng thư cổ văn tất thư mà Đỗ Lâm tìm được và tác phẩm Cổ Văn Thượng thư mà ông truyền lại nói nhập làm một[10]. Kỳ thực, tuy rằng, Đỗ Lâm vô cùng yêu thích tác phẩm Thượng thư cổ văn tất thư mà ông tìm được, nhưng cái mà ông truyền thụ lại chủ yếu là 29 thiên trong Thượng thư cổ văn có sự tương đồng với số thiên trong Thượng thư kim văn. Trong quá trình truyền thụ, Đỗ Lâm rất có thể đã tiến hành so sánh, san định lại phần nội dung giống nhau giữa bản tất thư mà ông tìm được và 29 thiên Thượng thư cổ văn. Đỗ Lâm truyền thụ Thượng thư cổ văn cho những người như Trịnh Hưng, Vệ Hoành … nên sau mới có “Giả Quỳ viết huấn, Mã Dung viết truyện, Trịnh Huyền chú giải”, 29 thiên Thượng thư cổ văn “do đó mà nổi tiếng trên đời”.[11]

                Cũng có thể nói,  bản Tất thư mà Đỗ Lâm có được rất có thể chỉ là một thiên hoặc vài thiên trong 29 thiên Thượng thư cổ văn mà Giả Quỳ viết huấn, Mã Dung viết truyện, Trịnh Huyền chú giải.

                8. Lưu Đào bản:

                  Lưu Đào bản còn được gọi là Thượng thư trung văn, là bản văn bản Thượng Thư của Lưu Đào[12]. Lưu Đào thời Hán Linh Đế đã từng được phong chức ngự sử, phong chức hầu ở Trung Lăng, sau được chuyển về kinh giữ chức Triệu Doãn, Gián nghị đại phu nên được nhìn thấy bản Trung Bí. Ông đã so sánh, đối chiếu Thượng thư trung cổ văn với Thượng thư kim văn của ba nhà (Âu Dương, Đại – Tiểu Hạ Hầu), sắp xếp, tổng hợp sự nổi trội của ba bản trung cổ kim văn, sao chép định bản, cho nên gọi là Thượng thư trung văn.[13] Chữ “trung” trong Thượng Thư trung văn bao hàm hai tầng ý nghĩa. Thứ nhất, là “trung” trong từ “trung bí”. Thứ hai, “trung” trong từ “triết trung”.

                  Lưu Đào là học giả uyên thâm hiểu biết sâu rộng[14], là nhân vật có cống hiến đối với nền học thuật Trung Quốc cuối thời Đông Hán. Nhưng tiếc là rất nhiều các tác phẩm của ông, bao gồm cả bản Thượng Thư trung văn do ông chỉnh lí đều không được lưu truyền lại.

                  9. Văn bản Khổng truyện cổ văn Thượng thư

                    Khổng truyện cổ văn Thượng Thư là bản cổ văn Thượng Thư mà Mai Trách – làm Dự chương nội sử thời Đông Tấn dâng lên Tấn Nguyên Đế, nên còn gọi là Mai Trách bản. Bản này có bài tựa đầu sách đề là của Khổng An Quốc và Khổng An Quốc đã làm chú cho cuốn sách này, vì thế nên gọi là Khổng truyện cổ văn Thượng Thư

                    Về thiên chương, cuốn Khổng truyện cổ văn Thượng Thư so với các bản cổ văn Thượng Thư lưu hành ở thời Lưỡng Hán có chỗ không giống nhau. Nó bao gồm 28 thiên Kim văn thượng thư, ngoài ra còn có 25 thiên cổ văn thượng thư. Dưới đây là mục lục 25 thiên:

                    1. Đại vũ mô
                    2. Ngũ tử chi ca
                    3. Dận Chinh
                    4. Trọng Hủy chi cáo
                    5. Dương Cáo
                    6. Y Huấn
                    7. Ba thiên Thái Giáp
                    8. Hàm Hữu nhất đức
                    9. Ba thiên Thuyết Mệnh
                    10. Ba thiên Thái thệ
                    11. Vũ thành
                    12. Lữ Ngao
                    13. Vi tử chi mệnh
                    14. Tế trọng chi mệnh
                    15. Chu Quan
                    16. Quân Trần
                    17. Tất mệnh
                    18. Quân Nha
                    19. Đồng Mệnh

                    Trong đó, mặc dù tên thiên Thiên Thái giống với tên thiên mà Nữ Tử ở Hà Nội dâng cho triều đình thời Hán Văn Đế, nhưng nội dung thì hoàn toàn khác nhau. Ngoài những chỗ bản kim văn thượng thư thì thiên Nghiêu Điển tách thành hai thiên Nghiêu Điển và Thuấn Điển, thiên Cao Dao Mô lại phân thêm thiên Ích Tắc, chia thiên Bàn Canh làm ba thiên; thiên Cố mệnh lại tách thêm thành thiên Khang Vương Chi Cáo. Như vậy, bản kim văn Thượng Thư vốn có 28 thiên biến thành 33 thiên, cùng với 25 thiên trong bản cổ văn thượng thư thì có 58 thiên.

                    Mặc dù bản của Mai Trách là một bản khá đầy đủ, có cả phần tựa của Khổng An Quốc và phần Đại tự nhưng lại không rõ về nguồn gốc, tính chất ngụy tác của nó rất cao nhưng vì khá đầy đủ và văn phong đồng nhất nên vất được tin dùng và xác lập ở vị trí quan học[15].

                    Theo những ghi chép trong lịch sử thì văn bản Thượng Thư rất nhiều với 9 bản tiêu biểu nhưng Kim văn Thượng thư mất trong loạn Vĩnh Gia những năm cuối thời Tây Tấn, sau khi hoàn thành “Ngũ kinh chính nghĩa” đời Đường,  các loại văn bản cổ văn thượng thư khác ngoài văn bản Khổng truyện cổ văn Thượng thư cũng đều tiếp nhau thất truyền, chỉ có Khổng truyện cổ văn Thượng thư còn truyền đến ngày nay.

                    II. Kim văn  Thượng thư và Cổ văn Thượng thư

                    2.1. Sự hình thành Kim văn và Cổ văn Thượng thư

                    1. Kim văn Thượng Thư:

                    Kim văn  là chỉ văn tự hiện đại, loại văn tự được viết theo lối mới tức là lối chữ Lệ thông dụng thời Hán. Người mở đầu cho Kim văn Thượng thư  là Phục Thắng đời Hán Văn Đế. Sau Triều Thố đến ghi lại văn bản Thượng Thư của Phục Sinh được 28 thiên, sau đó thêm một thiên Thái Thệ mà nữ tử ở Hà Nội dâng tặng, tổng cộng là 29 thiên. 29 thiên thượng thư này dùng chữ lệ được thông dụng ở đời hán để sao chép, cho nên gọi là Kim văn Thượng Thư .

                    Đặc điểm của kim văn Thượng Thư là coi Khổng Tử là một chính trị gia, người ta đi sâu vào giải thích “Vi ngôn đại nghĩa” của kinh điển. Nhìn chung kim văn kinh học có mối quan hệ rất lớn đến chính trị, nhưng lại đi sâu vào giải thích cái cao viễn nhiều khi đi quá xa thực tế, vì thế mà càng về sau kim văn kinh học ngày càng sa sút.

                    Kim văn Thượng Thư do Phục Sinh truyền thụ trong suốt thời Hán được xác lập trong quan học, lưu truyền trong trường học, ảnh hưởng cực lớn. Sau Phục Sinh, các nhà kim văn học đời Hán phân thành 3 phái lớn, đó là học phái Âu Dương thị lấy Âu Dương Cao làm đầu, học phái Đại Hạ Hầu lấy Hạ hầu thắng làm đầu, học phái Tiểu hạ hầu lấy Hạ hầu kiến làm đầu. Học gia ba học phái này, các đời thay nhau làm chức bác sĩ, luôn ở địa vị cao[16].  Sách Hán thư  – Nghệ Văn Chí ghi chép về ba học phái này đều có những giải thích về các chương của mình, như: Âu Dương Chương cú, Âu Dương thuyết nghĩa, Đại Hạ Hầu chương cú, Đại Hạ Hầu giải cố, Tiểu Hạ Hầu chương cú, Tiểu Hạ Hầu giải cố v.v…

                    2. Cổ văn Thượng Thư

                      Cổ văn  những cách viết bằng lối  Đại triện thời Tiên Tần. Hệ thống văn bản của cổ văn Thượng Thư tương đối phức tạp và có khá nhiều văn bản.Văn bản cổ văn Thượng Thư không thuần nhất vì được thu thập trong dân gian và có nhiều yếu tố mập mờ không rõ ràng. Cổ văn Thượng Thư có các văn bản sau: Văn bản của Hà Gian Hiến Vương, Khổng Bích bản (Bản trong vách tường nhà họ Khổng), Khổng thị gia tàng bản, Trung cổ văn bản, Đỗ Lâm bản lai lịch thiên mục của mỗi văn bản  đều có sự khác biệt.

                      Đặc điểm cổ văn Thượng Thư nói riêng và cổ văn kinh học nóichung là tập trung vào học vấn, cổ văn được truyền thụ với tư cách là phái học thuật, coi Khổng Tử như một nhà chỉnh lí văn hiến. Cái mà cổ văn kinh học muốn hướng tới là “danh huấn hỗ” tức là đi sâu vào giải thích, nghiên cứu từ ngữ, làm cho người ta học hiểu sâu sắc chân thực các tư liệu cổ đó. Tuy rằng khác hẳn với cái học nghĩa lí mà kim văn theo đuổi nhưng tầm ảnh hưởng cũng rất lớn. Tuy nhiên cổ văn kinh học có nhược điểm là chi li, phức tạp vì quá đi sâu vào giải thích câu chữ của văn bản.

                      Văn bản Văn bản của Hà Gian Hiến Vương là văn bản cổ văn Thượng Thư đầu tiên, nhưng vì bản này không có mấy ảnh hưởng. Người được coi là ông tổ của cổ văn Thượng Thư là Khổng An Quốc. Thời Tây Hán kinh học cổ văn chưa từng xác lập vị trí quan học, bác sĩ thời Bác Sĩ đều là bác sĩ kim văn. Khổng An Quốc cũng như mọi người không hiểu cổ văn, ông nhậm chức bác sĩ lúc đó là bác sĩ kim văn Thượng Thư . Sử kí – Nho lâm truyện viết:  “ An Quốc dùng kim văn đọc nó”, lời tựa Khổng truyện cổ văn Thượng Thư  có nói : Sách khoa đẩu phát hiện đã lâu, người đương thời không ai biết được, lấy sách nghe được từ Phục Sinh, khảo luận văn nghĩa, định lấy cái đã biết, dùng chữ Lệ để viết lại, rồi viết lên thẻ tre.” Có lẽ rằng, khi mới xuất hiện cổ văn Thượng thư, văn bản so với bản truyền của Phục Sinh có sự khác nhau, mà Thượng Thư không có chương cú huấn hỗ, An Quốc lấy kim văn định chương cú cho nó, ấy gọi là” dùng kim văn mà đọc cổ văn”. Nên nếu như không có bản của Phục sinh để đối chiếu, 29 thiên giống nhau  giữa tàng bản trong nhà họ khổng và bản của Phục sinh, Khổng An Quốc không có cách nào đọc hiểu nó. Khổng thị định bản  đồng thời dùng kim văn để giảng giải bản cổ văn phát hiện trong nhà họ Khổng, từ đó mới có các nhà cổ văn.

                      Cuối đời Hán có một số nhân vật lớn ở phái cổ văn Thượng Thư như Giả Quỳ làm huấn, Mã Dung là truyện, Trịnh Huyền làm chú cho cổ  văn Thượng Thư. Chính vì thế mà cổ văn Thượng Thư trở thành một cái học rất rộng. Cổ văn Thượng Thư càng về sau càng khẳng định được vị trí của mình và vượt hơn hẳn Kim văn Thượng Thư.

                      2. 2. Sự tranh biện giữa các nhà kim văn Thượng Thư và  cổ văn Thượng Thư

                        Về văn bản, thì kim văn Thượng Thư và cổ văn Thượng Thư không có nhiều khác biệt nhưng các nhà kinh học giải thích kim văn, cổ văn theo các hướng khác nhau như thế nên hình thành nên các học phái đối nghịch nhau. Thực chất của sự tranh biện giữa các nhà kim văn Thượng Thư và cổ văn Thượng Thư  trong lịch sử Thượng Thư kinh học chính là để xác định học phái nào vào vị trí quan học.

                        Thời Tây Hán kim văn Thượng Thư chiếm ưu thế tuyệt đối. Hán Vũ Đế lập Ngũ kinh bác sĩ đã lựa cho Âu Dương Cao là bác sĩ Thượng Thư, đến thời Hán Tuyên Đế sau hội nghị kinh học ở Gác Thạch Cừ đã đưa thêm Đại Hạ hầu và Tiểu Hạ Hầu là bác sĩ Thượng Thư. Như thế kim văn Thượng Thư được xác lập ở vị trí quan học và văn bản kim văn Thượng Thư được lựa chọn khắc in trong “Hi Bình thạch kinh” để khẳng định tính chính thống được, nhà nước công nhận. Nhìn chung kim văn Thượng Thư truyền từ Phục Sinh cho đến Âu Dương Hấp, tám đời liên tục được lập làm Bác sĩ. Văn bản của Cổ văn Thượng Thư tuy nhiều, nhưng ở thời Tây Hán đều chưa được xác lập vị trí quan học.

                        Người đầu tiên tranh nghị lập cổ văn kinh ở vị trí quan học là Lưu Hấp, thời Hán Ai Đế cuối Tây Hán. Lưu Hâm yêu thích cổ văn muốn đem các bản cổ văn như: Thượng thư, Xuân thu tả thi truyện, Dật lễ, Mao thi… xác lập ở vị trí quan học, nhưng vấp phải sự phản đối kịch liệt của các Thái thường bác sĩ. “Hán thư – Sở nguyên vương truyện” nói: Lưu Hâm tự là Tử Tuấn thuở nhỏ đã am hiểu Thi, Thư, có thể đọc thuộc văn, được triệu vào để gặp Hán Thành đế.[…] Trong những năm Hà Bình, nhận chiếu cùng với cha trông coi Bí thư, giảng giải lục nghệ truyện kí, Chư tử, Thi phú, Sổ thuật, Phương chi, không có gì là không nghiên cứu…[…] Hâm muốn lập “Tả Thị học.  Ai đế lệnh cho Hâm cùng với ngũ kinh bác sĩ giảng luận về nghĩa lý, các bác sĩ có người không dám nói thẳng, nên Hâm viết thư gửi cho Thái thường bác sĩ.

                        Những lời lẽ dứt khoát thẳng thắn của Lưu Hâm trong “Di nhượng thái thường bác sĩ thư” đã khiến các quan đại thần trong triều đình nổi giận, đồng thời cũng gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của các vị thái thường bác sĩ đó. Từ sau khi nhà Tây Hán đặt ra ngũ kinh bác sĩ, cho mãi đến thời kì Hán Ai Đế, đứng ở vị trí quan học luôn luôn là kim văn kinh học. Đa số các đại thần có quyền lực lớn trong triều đình đều xuất thân từ đệ tử bác sĩ Kim văn kinh học. Những vị thái thường bác sĩ này lo lắng sau khi cổ văn kinh học được lập ở học quan thì bản thân mình sẽ bị mất đi việc làm, nên họ liều mạng phản đối chủ trương của Lưu Hâm, lại liên kết với các vị đại thần, công kích và phỉ báng Lưu Hâm, cho rằng ông ta “cải loạn cựu chương, phi hủy tiên đế chi vị” (làm loạn chương sách cũ, không bỏ đi những điều tiên đế lập ra). Lưu Hâm thế cô lực mỏng, sợ rằng sẽ mắc tội mà bị giết, chỉ còn cách xin đựợc rời xa kinh thành, đến nhậm chức tại địa phương. Ai Đế thông cảm với Lưu Hâm, đành ân chuẩn cho ông ta đi làm quan địa phương. Đây là một lần mà việc tranh nghị lập cổ văn kinh ở vị trí quan học kết thúc bằng sự thất bại của Lưu Hâm. Lưu Hâm buộc phải rời khỏi kinh thành, lần lượt giữ chức thái thú của ba quận là Hà Nội, Ngũ Nguyên và Trác Quận, về sau do bị bệnh mà được miễn quan.

                        Lưu Hâm thuở nhỏ cùng với Vương Mãng làm hoàng môn lang, là bạn thân của Vương Mãng. Sau khi Ai Đế mất, Bình Đế lên ngôi. Thời gian Bình Đế ở ngôi chỉ vẻn vẹn có 9 năm. “Thái hoàng thái hậu lâm triều, Đại tư mã Vương Mãng nắm quyền, các quan nghe theo lệnh của Mãng”. Nhờ vậy mà Lưu Hâm mới được quay trở lại kinh thành. Vương Mãng cũng yêu thích cổ văn, tán đồng chủ trương lập cổ văn Thượng Thư ở vị trí quan học của Lưu Hâm. Do có được sự ủng hộ của Vương Mãng, chủ trương của Lưu Hâm cuối cùng cũng được thực hiện. Cho nên trong “Hán thư – Nho lâm truyện tán” có nói: “Thời Bình Đế, lại lập Tả Thị Xuân thu, Mao thi, Dật lễ, Cổ văn Thượng Thư; vì vậy rất nhiều những thứ bị thất tán đều đựơc bảo tồn” Tuy nhiên thời gian mà cổ văn kinh đựơc lập xác lập ví trí quan học không được bao lâu, cùng với việc chính quyền Vương Mãng bị tiêu diệt thì việc lập cổ văn kinh ở vị trí quan học cũng nhanh chóng bị phế bỏ”.

                        Sau khi chính quyền Đông Hán được thành lập, kim văn kinh học và cổ văn kinh học đã lần lượt tiến hành không ít lần tranh cãi, tuy nhiên được lập ở quan học chủ yếu vẫn là kim văn Thượng Thư .

                        Cổ văn kinh học tuy rằng không được lập ở quan học, nhưng qua nhiều lần đọ sức đua tài cùng kim văn kinh học, cũng đã dần dần giành thắng lợi trong việc chiếm được sự tin phục của kẻ sĩ. Cổ văn kinh đã bén rễ sâu trong dân gian. “Hậu Hán thư – Trịnh Huyền truyện” viết:

                        Lúc đó Nhậm Thành Hà Hưu yêu thích cái học  “Công Dương” bèn viết ra các sách “Công Dương mặc thủ”, “Tả Thị cao hoang”, “Cốc Lương phế tật”; Huyền bèn viết “Phế mặc thủ”, “Châm cao hoang”, “Khởi phế tật”. Hưu (Hà Hưu) thấy đó mà than rằng: “Khang Thành vào nhà ta, cầm giáo của ta mà đâm ta ư”. Sau thời sơ, trung hưng, các vị như Phạm Thăng, Trần Nguyên, Lí Dục, Giả Quỳ tranh luận về cổ kim học, sau khi Mã Dung trả lời thái thú phương bắc là Lưu Hoàn cho đến khi Huyền đáp trả Hà Hưu, nghĩa cứ đã đầy đủ, do đó cổ học dần được sáng tỏ.

                        Kinh học kim văn thời này đã dần dần trở thành phương tiện để đạt được công danh lợi lộc trong con đường ra làm quan. Cái học chương cú đó rối rắm, dài dòng mà lại trống rỗng không có gì càng ngày càng bị kẻ sĩ chán ghét. Chính “con đường thủ văn vốn trì trệ thiên bẩm, các thuyết dị đoan rối ren, nổi lên đả kích lẫn nhau, lại khiến cho kinh học có mấy nhà, mỗi nhà có mấy thuyết, chương cú nhiều có đến hơn trăm vạn lời, người học vất vả mà sự nghiệp ít, người đời sau nghi ngờ mà không đoan chính”. Đặc biệt là cái học sấm vĩ mà các nhà kim văn học tôn sùng, đã gặp phải sự đả kích mạnh mẽ của các nhà cổ văn học. Sau khi các nhà kinh học nổi tiếng như Trịnh Chúng, Giả Quỳ, Mã Dung… làm chú cho kinh học cổ văn, kinh học cổ văn lại được thịnh hành trong dân gian, ảnh hưởng của nó dần dần đã vượt qua kinh học kim văn.

                        Ngoài việc tranh biện trực tiếp giữa các học giả kim văn, cổ văn thì vào cuối thời Đông Hán hợp lưu cổ văn kinh học và kim văn kinh học tuy đã trở thanh xu thế chú yếu. Thượng thư trung văn bản của là sản phẩm được hình thành từ xu thế hợp lưu từ bản kim cổ văn sau thời Đông Hán. Đồng thời, về mặt khách quan mà nói, nó đã thúc đẩy sự hợp lưu kim cổ văn của Thượng thư học cuối thời Đông Hán. Cổ văn kinh học tuy rằng vào thời Đông Hán chưa được lập ở vị trí quan học nhưng đã có sự ảnh hưởng lớn trong dân gian. Thực thế là rất nhiều người ban đầu học tập kim văn kinh học, về sau đều chuyển sang học tập cổ văn kinh học, chính điều đó đã tạo ra điều kiện có lợi để hợp dòng kinh học kim văn và kinh học cổ văn cuối thời Đông Hán.

                        Đặc biệt là Trịnh Huyền – bậc thầy kinh học cuối thời Đông Hán, đã làm nên những đóng góp quan trọng trong việc hợp dòng kinh học kim cổ văn. Trịnh Huyền tên tự là Khang Thành, có tài nghe rộng viết giỏi, đẹp cả khí tiết thanh cao và việc làm sáng suốt, viết sách đầy nhà, theo học khắp nơi. Từ thời Hán đến nay bậc thầy kinh học, dường như chưa có ai thịnh như Trịnh quân.[17]” Lúc nhỏ trịnh Huyền “tới nhà Thái học thụ nghiệp, học thầy Kinh Triệu 5năm đầu tiên, bắt đầu thông suốt Kinh Thị dịch, Công dương xuân thu, Tam thống lịch, Cửu chương toán thuật. Lại theo Trương Cung Tổ ở Đông Quận học Chu quan, Lễ kí, Tả Thị Xuân Thu, Hàn thi, cổ văn Thượng Thư.[18]

                        Có thể thấy, cái học của Trịnh Huyền đã có kinh học kim văn, cũng có kinh học cổ văn[19]. Trịnh Huyền sau khi học xong, lần lượt chú các kinh, đồng thời lại viết thành nhiều loại sách kinh học nổi tiếng. Sách Trịnh Huyền truyện nói rằng: “Tất cả những cái mà Huyền chú như Chu dịch, Thượng Thư , Mao thi, Nghi lễ, Lễ ký, Luận ngữ, Hiếu kinh, Thượng Thư đại truyện, Trung hầu, Càn tượng lịch, lại như các trứ tác như Thiên văn thất chính luận, Ngư lễ đế hợp nghĩa, Lục nghệ luận, Mao thi phổ, Bác Hứa Thận ngũ kinh dị nghĩa, Đáp lâm hiếu tồn Chu lễ nan tổng cộng hơn một vạn lời.

                        Trịnh Huyền bác bỏ quan điểm riêng của từng môn phái, coi cổ văn làm chủ, và cả thuyết coi kinh học kim văn làm hay, “thâu tóm đại điển, cắt bỏ rườm rà sằng bậy, sửa chữa thiếu sót, từ đó người học biết chỗ quy về”[20]. Trịnh Huyền dung nhập quán thông kinh học kim văn cổ văn, lại tự trở thành một nhà, trở thành tập đại thành của kinh học đời Hán. Ảnh hưởng của Trịnh Huyền trong lĩnh vực kinh học vượt xa những bậc tiền bối của ông như Đỗ Lâm, Trịnh Chúng, Giả Quỳ, Mã Dung…

                        Trong xu thế hợp lưu, cổ văn kinh học đã chiếm vị trí thượng phong, kim văn kinh học thì ngày càng suy yếu. Các danh gia cổ văn kinh học nối tiếp ra đời, trứ thuật ngày càng nhiều, mà kim văn kinh học thì hiếm gặp được người có thể coi là địch thủ của cổ văn kinh học, trong bối cảnh đó, ảnh hưởng của ba nhà kim văn thượng thư ngày càng suy vi.

                        Đến thời Tam Quốc ảnh hưởng của cổ văn kinh học vẫn rất sâu sắc,và cổ văn kinh học được xác lập ở hàng quan học ở ba nước Ngụy Thục Ngô. Lúc đầu chủ yếu cổ văn kinh học của Trịnh Huyền được lập bác sĩ. Nhưng sau đó nhà kinh học Vương Túc nổi nên nhanh chóng lấn áp Trịnh Huyền .

                        Vương Túc là một nhà nghiên cứu cổ văn kinh học nổi tiếng thời Tam Quốc Vương Túc là con trai của nhà kinh học nổi tiếng Vương Lang, Vương Lang đã từng theo học bậc đại sư Âu Dương học là Dương Tứ để học tập kim văn kinh học, thời Nguỵ Văn Đế[21] làm quan tới chức Tư Không rồi chuyển sang làm Tư Đồ, được phong tước Lạc Bình Hương Hầu, Nguỵ Minh Đế lên ngôi, lại thăng ông làm Lan Lăng Hầu. Vương Lang đã từng truyền các sách Chu Dịch, Xuân Thu, Hiếu Kinh, Chu Quan.

                        Vương Túc là người tinh thông cổ kim kinh học, thuở nhỏ đã học kim văn, sau này chuyển sang làm kinh học cổ văn[22]. Để khuếch rộng ảnh hưỏng của bản thân, ông ta tìm công kích Trịnh Huyền, cứ Trịnh Huyền dùng kim văn để chú, Vương Túc lại lấy các thuyết cổ văn của Giả Quỳ, Mã Dung thêm vào để bài bác, chống lại; cứ Trịnh Huyền dẫn cổ văn, Vương Túc lại lấy kim văn của mình để bài bác. Vương Túc lại soạn ra một bộ sách Thánh Chứng Luận để tỏ rõ bản thân, đồng thời lấy đó làm vũ khí công kích Trịnh Huyền. Thêm đó thân phận của Vương Túc là ngoại thích (ông là ông ngoại của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm), dựa vào quyền thế chính trị mà bài xích lối học họ Trịnh. Một thời, ảnh hưởng của Vương Túc nhanh chóng lan rộng. Vậy nên Trịnh học và Vương học thời Nguỵ Tấn đều ở vị trí học quan. Theo sách Tấn Thư · Tuân Tung truyện, “ thời Tây Tấn ở vị trí học quan tổng cộng có 19 Bác Sĩ, Bác sĩ Thượng Thư  là bốn nhà Giả, Mã, Trịnh, Vương, tất cả truyện của họ đều là cổ văn Thượng Thư.” Từ đó, kim văn Thượng Thư  có rất ít người hỏi tới .

                        Vào niên hiệu Chính Thủy thời Ngụy, bản cổ văn Thượng Thư của Trịnh Huyền được lựa chọn làm văn bản chính thức để khắc bia (Chính Thủy Thạch Kinh) thì vai trò của Cổ văn Thượng Thư  chiếm vị trí tuyệt đối.

                        Thời Tấn Nguyên Đế,  xuất hiện bản Khổng truyện cổ văn Thượng Thư  và lưu hành càng ngày càng rộng, ảnh hưởng của nó cũng nhanh chóng vượt qua các loại văn bản Thượng Thư khác. Đến thời Đông Tấn Khổng truyện cổ văn thượng thư đã lập vị trí quan học. Tấn Thư – Tuân Tung truyện viết:

                        Nguyên Đế lên ngôi, tập trung quan Bộc Dạ thượng thư, sai Tung cùng với Tập Hiệp Hồng định lễ nghi trung hưng… Lúc đó mới tu sửa trường học, cắt giảm Bác sĩ, đặt mỗi loại một Bác sĩ như “Chu Dịch” là Vương thị, “Thượng thư” là Trịnh thị, Cổ văn “Thượng thư” là Khổng thị, “Mao thi” Trịnh thị, “Chu Quan”, “Lễ Kí” là Trịnh thị, “Xuân thu tả truyện” là Đỗ thị, Phục thị, “Luận ngữ”, “Hiếu kinh” là Trịnh thị, tổng có 9 người.

                        Với những ưu điểm của bản Khổng truyện cổ văn Thượng Thư lại được nhà nước công nhận, trong một thời gian truyền song song với bản của Trịnh Huyền và sau này lấn át Trịnh Huyền. Đến thời Nam Bắc triều lại phân thành làm cái học Bắc  học và Nam học. Bắc Triều thông hành bản của Trịnh Huyền, Nam Triều lại lưu hành bản Mai Trách. Thời Nam Bắc triều Khổng truyện cổ văn thượng thư đã chiếm ưu thế tuyệt đối ở Giang Nam. Sau đó, học giả nổi tiếng trong 3 triều Trần, Tùy, Đường Lục Đức Minh trong “Kinh điển thích văn” căn cứ vào Khổng truyện cổ văn Thượng Thư tuyển thành “Thượng thư âm nghĩa”. Nhan Sư Cổ thời sơ Đường lại căn cứu vào Khổng truyện cổ văn Thượng Thư hoàn thành “Ngũ kinh định bản”. Không lâu sau, nhóm Khổng Đĩnh Đạt lại căn cứ “Ngũ kinh định bản” biên soạn “Ngũ kinh chính nghĩa”, “Thượng Thư  chính nghĩa” trong đó dùng chính là bản Khổng truyện cổ văn thượng thư. Khảo thí khoa cử sau đó đều dựa theo “Ngũ kinh chính nghĩa” nên cổ văn Thượng Thư từ đó được xác lập vào vị trí quan học. Đến niên hiệu  Khai Thành đời Đường Văn Tông Khổng truyện cổ văn Thượng Thư được khắc in trong hệ thống “ Khai Thành thạch kinh”.


                        [1] Sách  Sử KýKhổng Tử thế gia chép:Thời Khổng Tử, nhà Chu suy vi mà lễ nhạc bị phế, “Thi”, “Thư” đều khuyết. Tìm theo Lễ nhạc thời Tam đại, viết tự cho “Thư Truyện”, trên ghi đế thời Đường Ngu, dưới đến hết Tần Mục Công, sắp xếp mọi việc theo thứ tự… Cho nên “Thư truyện”, “Lễ Ký” tự là do họ Khổng làm ra.”

                        Sách Hán Thư – Nghệ Văn Chí chép: “Cho nên “Thư” là sách viết ra đã xa lắm rồi, đến khi Khổng Tử soạn lại, trước thì bắt đầu từ đế Nghiêu, sau kết thúc ở thời Tần, phàm có trăm chương, mà làm tự cho nó, để nói ý nghĩa của việc làm ra.”

                        Sách Tuỳ Thư – Kinh Tịch Chí cũng ghi: “Khổng Tử cẩn trọng đọc sách “Thư” của nhà Chu, có được kinh điển của bốn đời Ngu, Hạ, Thương, Chu; san định những điều thiện đẹp, trên bắt đầu từ thời Ngu, dưới kết thúc ở thời Chu, tổng cộng có hơn trăm thiên, biên soạn và làm tựa cho nó.”

                        [2] Loạn Vĩnh Gia: Thời Tấn Huệ Đế, triều chính hủ bại dấn tới loạn Bát Vương kéo dài 16 năm. Phương Bắc có bộ tộc Hung Nô hùng mạnh đang muốn bành trướng xuống phía Nam. Năm thứ nhất niên hiệu Vĩnh Hưng, tức năm 304, người đứng đầu bộ tộc Hung Nô là Lưu Uyên đã khởi binh ở thành Tả Quốc( nay là Ly Thạch Sơn Tây) dần dần chiếm được tất cả các châu, tự xung là Hán Vương. Năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Gia, Lưu Uyên chính thức xưng Đế. Năm sau Lưu Uyên mất, hoàng Tử Lưu Thông kế vị. Một năm sau, tức năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh Gia, Lưu Thông ra lệnh cho các tướng Thạch Lặc, Vương Di, Lưu Diệu xuất quân đánh nước Tấn, đội quân này đã đánh tan 10 vạn quân Tấn ở huyện Ninh Bình (nay là ấp Lộc – Tây Nam Hà Nam) giết Thái Úy và các vương công. Không lâu sau, đánh vào kinh thành Lạc Dương bắt được vua Hoạch Hoài, để mặc cho binh lính cướp bóc, giết hơn ba vạn vương công sĩ dân nên sử gọi đây là “ loạn Vĩnh Gia”.

                        [3] Sử ký -Nho lâm liệt truyện” ghi: Phục Sinh là người Tế Nam, làm quan bác sĩ thời Tần, thời Hiếu Văn đế muốn tìm người trị lý sách “Thượng thư”, thiên hạ không có, thì nghe Phục Sinh có thể trị lý bèn mời đến. Lúc đó Phục Sinh đã hơn 90 tuổi, ông đã già không thể đi lại, bèn sai quan Thái Thường cử Triều Thố đến để nhận sách. Thời Tần đốt sách, Phục Sinh cất sách trong tường. Sau đó quân đội chống Tần nổi dậy, bỏ nhà đi lưu vong. Nhà Hán thành lập, Phục Sinh tìm sách đó, mất 10 thiên, chỉ còn 29 thiên, liền lấy sách dạy ở nước Tề nước Lỗ. Người học vì thế hết thảy đều có thể nói về sách “Thượng thư”. Việc giáo dạy của các bậc đại sư ở Sơn Đông không gì không liên quan đến“Thượng thư” .

                        Sử ký  – Triều Thố truyện” ghi: Thời Hiếu Văn đế, thiên hạ không có người trị lý “Thượng thư”, chỉ nghe Phục Sinh người Tề Nam làm quan bác sĩ thời Tần, trị lý được sách “Thượng thư”, đã hơn 90 tuổi, già rồi nên không thể vời đến triều, bèn hạ chiếu ra lệnh cho Thái Thường cử người đến nhận sách, Thái Thường sai Thố nhận “Thượng thư” của Phục Sinh.

                        [4] Hán Thư – Cảnh thập tam vương truyện ghi: “Hà Gian Hiến Vương Đức được lập trước 2 năm niên hiệu Hiếu Cảnh, là người chuyên tu việc học và hiếu cổ, thành thực mà cầu. Từ trong dân mà có được sách hay thì nhất định cùng họ viết lại, lưu lại chân bản, lại thưởng thêm vàng bạc để chiêu gọi dân chúng. Cho nên người của đạo thuật tứ phương, không kể nghìn dặm xa xôi, có người có được sách cũ của tổ tiên, đều dâng lên HiếnVương, cho nên có rất nhiều sách, nổi tiếng triều Hán.”

                        [5] Hán Thư –  Nghệ Văn Chí ghi: “Thượng thư cổ văn lấy từ trong vách nhà họ Khổng. Cuối đời Vũ Đế, Lỗ Cung Vương phá nhà Khổng Tử, muốn làm rộng cung thất của mình, mà phát hiện hơn các văn bản Cổ Văn Thượng Thư, tới Lễ Ký, Luận Ngữ, Hiếu Kinh,  đều là chữ cổ. Cung Vương bước lên thềm nhà đó, nghe thấy tiếng đàn sắt, đàn cầm, chuông, khánh, sợ hãi bèn dừng việc không phá vách nữa.”

                        [6] Khoa đẩu: chữ  viết thời ngày xưa, giống con nòng nọc.

                        [7] Hán Thư – Nho Lâm  truyện ghi: Thời Hán Thành Đế, mong có người đọc cổ văn, Bá vì có Bách lưỡng thiên mà được triệu tập, lấy Trung bí để giám định nó, thì không phải là bản thật.

                        [8] Vương Sung trong “Luận hành – Chính thuyết” nói: Đến thời Hiếu Thành hoàng đế, triệu tập những nhà cổ văn Thượng Thư học. Trương Bá ở Đông Hải làm lời tựa cho trăm thiên, làm giả 102 thiên, dâng lên Thành Đế. Đế dùng trăm thiên trong bí thư để giám định, đều không tương ứng, thế là hạ lệnh sử tội Bá. Đúng theo tội của Bá thì đáng phải chết. Thành Đế đề cao tài của ông mà không giết, cũng tiếc văn của ông mà không hủy sách. Cho nên102 thiên mà người đời truyền lại, người truyền nói thì gọi là bản Thượng thư có 102 thiên.

                        Vương Sung trong thiên Luận hành – Dật văn đó cũng có ghi rằng: Hiếu Thành hoàng đế đọc trăm thiên “Thượng thư”,  Bác sĩ lang sứ không ai có thể hiểu rõ, liền với những người có thể thông hiểu “Thượng Thư. Đông Hải Trương Bá thông suốt Tả Thị Xuân Thu, làm lời tựa cho trăm thiên, lấy “Tả thị” để giảng giải về chữ nghĩa, làn thành 102 thiên, khi đã hoàn thành thì dâng lên vua. Thành Đế dùng bản  Thượng Thư trong thư viện để khảo xét, thấy không một chữ tương ứng, Thành Đế liền hạ lệnh sử tội Bá, đúng theo tội thì Bá phạm tội đại bất kính. Thành Đế thầy tài của Bá hiếm gặp, bèn tha cho cái tội đó, cũng không hủy cái sách đó. Cho nên 102 thiên Thượng Thư vẫn còn truyền ở dân gian.

                        [9] Cha của ông là Đỗ Nghiệp cũng tinh thông “Thượng Thư”, từng làm Thứ sử Kinh Châu trong khoảng vua Thành Đế, Ai Đế thời Tây Hán. Đỗ Nghiệp là cháu ngoại của danh thần Trương Sưởng thời Tây Hán. Thời Hán Tuyên Đế Trương Sưởng từng làm qua các chức Thái thú Sơn Dương, Kinh Triệu Doãn, lại là nhà văn tự học cổ nổi tiếng nhất thời Tây Hán. Theo “Hán thư – Giao tự chí” ghi lại thời Hán Tuyên Đế ở Mĩ Dương đào được một cái đỉnh, trong đỉnh có lời minh, nhưng văn võ bá quan trong triều không thể đọc được. Có ý định đem cái đỉnh đó đặt trong tông miếu. Lúc đó chỉ có Trương Sưởng thích văn tự cổ, biết được lời minh trên đồ cúng tế. Ông căn cứ theo lời minh viết trên cái đỉnh, phán đoán đỉnh đó là vật thiên tử nhà Chu tặng cho bề tôi. Trương Sưởng cho rằng, cái đỉnh đó tuy là đồ vật thời Chu, nhưng quy cách nhỏ, cấp bậc thấp không thích hợp đặt trong tông miếu Thiên tử nhà Hán. Kiến nghị đó được Tuyên Đế chấp nhận, từ đó danh tiếng của Trương Sưởng càng tăng.

                        Cha của Trương Sưởng là Trương Phúc phụng sự Hán Thành Đế, làm quan đến chức Quang Lộc Đại phu, em của Trương Sưởng là Trương Vũ, thời Tuyên Đế cũng là rường cột quốc gia, có thể thấy danh tiếng xuất thân của Đỗ Lâm. Hậu Hán thư – Đỗ Lâm truyện” nói: Lâm thủa nhỏ thâm trầm hiếu học, trong nhà đã có nhiều sách, lại có cha con Trương Tủng bên ngoại thích văn thái, Lâm liền theo học Tủng, hiểu rộng biết nhiều, người đương thời gọi là Thông nho. Trương Tủng túc là cháu của Trương Sưởng, cậu của Đỗ Lâm.

                        [10] Hậu Hán thư – Nho lâm liệt truyện: “Vệ Hoành, tự Kính Trọng, người Đông Hải. Thuở nhỏ cùng với Trịnh Hưng ở Hà Nam, đều là người thích cổ học. Ban đầu, Tạ Mạn Khanh ở Cửu Giang giỏi về “Mao thi”, rồi làm lời huấn cho tập này. Hoành theo Mạn Khanh thụ học, nhân làm “Mao thi tự”, giỏi về “Phong”, “Nhã” mà nay vẫn được lưu truyền. Sau theo Đại Tư Không Đỗ Lâm học theo Thượng thư cổ văn, làm lời “huấn chỉ”. Lúc ấy, có Từ Tuần Sư theo học Hoành, sau thụ học theo Đỗ Lâm, cũng trở nên nổi danh, do đó Cổ văn hưng khởi. Thời vua Quang vũ cử làm Nghị lang”.

                        [11] Sách Tùy thưKinh tịch chí viết: “Đỗ Lâm người Phù Phong thời Hậu Hán, truyền lại Thượng thư cổ văn, người cùng huyện là Giả Quỳ viết huấn, Mã Dung viết truyện, Trịnh Huyền làm chú. Cái mà ông truyền lại, có 29 thiên, lại lẫn thêm phần kim văn, không phải là bản của họ Khổng, không có các thuyết khác”.

                        [12] Lưu Đào: tự là Tử Kì, tên khác là Vĩ, người Dĩnh Xuyên, Dĩnh Âm, xuất thân là Thái học sinh, là danh sĩ cuối thời Đông Hán. Khi làm chức Thái học độc thư, đã can đảm phê bình việc triều chính, dũng cảm chỉ trích bọn gian thần mà trở nên nổi tiếng trong giới nho sĩ.

                        [13] Sách Hậu Hán thưLưu Đào truyện viết: “Họ Lưu rất thông “Thượng thư”, “Xuân Thu”, làm huấn hỗ. So sánh Thượng thư của ba nhà và cổ văn thấy phần chính văn chênh lệch 700 chữ, nên gọi là trung thư cổ văn”.

                        [14] Theo sách Hậu Hán thư – Lưu Đào truyện viết: “Các tác phẩm có rất nhiều, lại còn viết “Thất diệu luận”, “Khuông Lão tử”, “Phản Hàn Phi”, “Phục Mạnh Kha”, đến các tác phẩm biện sự, điều giáo, phú, tấu, thư, kí, biện nghi. Phàm cũng hơn trăm thiên”.

                        [15] Lục Đức Minh trong “Kinh điển thích văn – Tự lục” cũng nói: Loạn Vĩnh Gia, sách “Thư”của các nhà đều mất, mà Khổng truyện cổ văn bắt đầu thịnh hành, được đặt chức Bác sĩ, họ Trịnh cũng đặt  một người Bác sĩ.

                        [16] Hậu hán thư – Nho lâm truyện viết: Phục Sinh ở Tế Nam chuyên về “Thượng Thư”, truyền cho Tế Nam Trương Sinh và Thiên Thặng Âu Dương Sinh. Âu Dương Sinh truyền cho Đồng Quân Nghê Khoan, Khoan truyền cho con của Âu Dương Sinh, đời đời truyền cho nhau, đến tằng tôn là Âu Dương Cao, làm Thượng thư Âu Dương Thị học;Trương Sinh truyền cho Hạ Hầu Đô Úy, Đô Úy truyền cho tộc tử là Thủy Xương, Thủy Xương truyền cho tộc tử là Thắng, làm Đại Hạ Hầu Thị học; Thắng truyền cho anh họ là Tử Kiện, Kiện làm ra một phái khác là Tiểu Hạ Hầu Thị học; ba nhà đều lập bác sĩ… Âu Dương Hấp tự Chính Tư, người Lạc An, Thiên Thừa. Từ Âu Dương Sinh truyền văn bản của Phục Sinh đến Hấp là 8 đời, đều làm Bác sĩ.

                        [17] (Thanh) Bì Tích Thụy “Kinh học lịch sử”, Bắc Kinh: NXB Trung Hoa thư cục năm 1959, trang 141.

                        [18] Phạm Diệp, “Hậu hán thư. Trịnh Huyền truyện’’, trang 1207.

                        [19] Các sách Kinh Thị dịch, Công dương xuân thu, Lễ ký, Hàn Thi đã có trước đây là kim văn kinh học. Còn Chu quan, Xuân Thu Tả Truyện,  cổ văn Thượng Thư … đều thuộc cổ văn kinh học.

                        [20] Phạm Diệp, “Hậu hán thư. Trịnh Huyền truyện’’, trang 1213.

                        [21] Tào Phi, con trai Tào Tháo ,Thuỵ hiệu Nguỵ Văn Hoàng Đế

                        [22] Trong Tam Quốc chí  – Nguỵ Thư – Vương Túc truyện có nói : Ban đầu, Túc thích học họ Giả[22], cái học họ Mã[22], mà không thích họ Trịnh[22], chọn nhặt những điều khác nhau, làm chú giải Thượng Thư, Thi, Luận Ngữ, Tam lễ, Tả Thị. Cùng với bố là Lang soạn ra Dịch Truyện, đều xếp vào hàng quan học. Điều này bác bỏ điển lễ triều đình, tế giao, tông miếu, táng kỷ, nặng nhẹ, cả thảy hơn trăm thiên. Thời Lạc An Tôn Thục Nhiên, ông tiếp nhận sự truyền học của học phái Trịnh Huyền, người đời gọi là Đông Châu Đại Nho. Ông được triệu làm trông coi Bí thư, nhưng không vào. Ông còn làm tập “Thành Trưng Lụân” để chê trách Huyền, Thục Nhiên bài bác và bỏ đi, và làm chú các sách Chu Dịch, Xuân Thu Liệt, Mao Thi, Lễ Ký, ba truyện Xuân Thu, Quốc Ngữ, Nhĩ Nhã, ngoài ra làm chú cho hơn mười sách nữa.


                        ———*******——–



                        Gửi phản hồi

                        Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

                        WordPress.com Logo

                        Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

                        Twitter picture

                        Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

                        Facebook photo

                        Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

                        Google+ photo

                        Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

                        Connecting to %s

                        %d bloggers like this: