Trang chủ » Văn học Trung Quốc » ĐƯỜNG THI DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VĂN HỌC VIỆT NAM

ĐƯỜNG THI DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VĂN HỌC VIỆT NAM

I. Khái lược về Đường thi.

1.1  Khái niệm Đường thi

Khái niệm Đường thi có từ thời Đường (618 – 907) – một triều đại được coi là có nhiều chính sách tiến bộ nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc. Khái niệm Đường thi vẫn là một khái niệm co dãn, có khi được chỉ tất cả các bài thơ được sáng tác vào đời Đường của Trung Quốc (bất kể thuộc cổ thể hay cận thể), có khi lại chỉ tất cả các bài thơ làm theo thể Đường luật (bất kể được sáng tác vào lúc nào , ở Trung Quốc hay ở Việt Nam).

Cách hiểu thứ nhất, Đường thi được hiểu trùng với phạm vi của một triều đại. Cuốn toàn Đường thi đã sưu tập được 48900 bài thơ của hơn 2200 tác giả sống trong khoảng thời gian từ năm 618 đến năm 907, và được sáng tác trên 3 thể chính : Thơ luật Đường, thơ Cổ phong và Nhạc phủ. Theo cách phân chia này thơ đường được chia làm 4 giai đoạn: Sơ Đường (618 – 713), Thịnh Đường (713 – 766), Trung Đường (766 – 835), Vãn Đường (835 – 907). Nếu theo cách hiểu này, khái niệm Đường thi bị bó hẹp là thơ của một triều đại.

Về cách hiểu thứ hai, có nghĩa là Đường thi trở thành một thể tài, có những nguyên tắc và chuẩn mực nhất định. Khái niệm Đường thi đồng nhất với khái niệm luật thi – một thể thơ mới ra đời vào thời Đường. Như vậy sẽ  không còn bó hẹp về không gian và thời gian, chỉ cần những sáng tác đảm bảo quy tắc của luật thi đều là thơ Đường. Nhận thấy rằng tất cả những sáng tác vào thời Đường, dù trực tiếp hay gián tiếp, dù ít hay nhiều đều bị ảnh hưởng bởi thơ Đường luật . Thời Đường có một sự  vận động lớn trong thơ ca, mà luật thi là sản phẩm cao nhất của quá trình đó. Nên hiểu theo nghĩa phái sinh Đường thi là một thể loại thơ cũng là hợp lí.

 

1.2  Đặc điểm của thơ Đường luật

Thơ Đường luật ra đời trên cơ sở những tiền đề về kinh tế, tư tưởng và văn học. Có thể nói chính sự pháp triển về kinh tế, sự tự do về học thuật tôn giáo và sự vận động không ngừng của hệ thống văn chương đã đem đến sự cường thịnh của văn học đời Đường. Hơn nữa triều Đường đã chú trọng phát triển chế độ khoa cử, quy định lấy thơ phú để chọn kẻ sĩ. Vì thế  Nho sĩ bồi bổ tài văn chương, sáng tác thơ văn đủ niêm luật để ứng thí . Ngoài ra, thời kì này phong trào dịch thuật kinh Phật rất phát triển, các nhà dịch thuật dùng ngôn ngữ bạch thoại đương thời để dịch kinh phật từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Trung Quốc, làm cho hệ thống ngôn ngữ phong phú đầy đủ hơn. Sự giàu có về ngôn ngữ đủ sức diễn đạt những ý vị sâu sa và những cấu tứ lạ lẫm trong thơ Đường.

Phong cốt và hứng kí là hai khái niệm dùng để diễn đạt đặc trưng về nội dung của thơ Đường luật. Phong cốt thơ  Đường lấy cứng cỏi mạnh mẽ của Hán Ngụy bỏ đị phong kí suy đồi thời Lục Triều. Có người nhận xét  phong cốt của Đường thi là “tinh thần lạc quan sẵn có của người đời Đường kết hợp với tính cách anh hùng trong văn học Kiến An và truyền thống tinh thần lí tưởng từ Khuất Nguyên trở đi”. Hứng kí nghĩa là tỉ hứng kí thác, thủ pháp của thi nhân dùng tỉ hứng để kí thác hoài bão chính trị của mình (gọi tắt là tỉ hứng). Hứng ký thơ Đường đã tiếp thu và thể hiện quan niệm “mĩ thích tỉ hứng” của truyền thống , coi trọng tác dụng phản ánh hiện thực cuộc sống, đặc biệt là nêu lên nỗi khổ và các giải thoát u phẫn trong lòng nhân dân. Tuy nhiên có sự đổi mới về phương thức thể hiện, vận dụng thủ pháp “trực trần kì sự” của thể phú nên lời thơ cứng cỏi sắc bén.

Thanh điệu và từ chương là yếu tố cấu thành về hình thức của Đường thi. Thanh luật Đường thi là sự kế thừa và phát triển hệ thống thanh luật của thơ ca thời Tề Lương. Theo những ghi chép trong “thơ ca bát bệnh” của Thẩm Ước ta thấy thơ ca thời Tề Lương chia thanh liệu thành 4 loại “bình, thượng, tứ, nhập”  tuy chặt chẽ trong từng liên, từng câu nhưng trong lỏng lẻo giữa các liên, và có phần  rườm rà khó nhớ. Cách lưỡng phân thanh điệu thành bằng và trắc cùng với những quy định chặt chẽ về niêm luật tạo thành một phương thức quy phạm hóa tuy có phẩn ngặt nghèo nhưng lại thuận tiện trong học tập và nắm vững. Thơ Đường có sự biến hóa linh động trong tổ chức cú pháp. Sử dụng phổ biến hình thức đảo trang, tỉnh lược mất đi trật tự lôgic của tản văn, câu thơ trở nên cô đọng hàm xúc hơn. Ngôn ngữ Đường thi vừa chất thực vừa cứng cỏi, vừa thẳng thắn vừa sát thực.Nó mất đi dạng âm tiết tự nhiên cái gọi là ngôn ngữ đời thường, những hư từ không còn xuất hiện trong văn thơ nữa. Nó cũng không phải là ngôn ngũ bóng bẩy, trau truốt của thơ ca thời Nam Bắc Triều mà là ngôn ngữ tinh tế, được lựa chọn kĩ lưỡng hết sức tự nhiên chứ không hề sống sượng. Nói chung, trong thơ Đường ta thấy lại phong kí lãng mạn nhưng cũng giàu tính hiện thực của Kinh thi và Li Tao, có yếu tố trữ tình, tự sự của thơ ca thời Hán, Lục Triều, có sự phong phú về nội dung phản ành và sự phát triển của thơ ca thời Ngụy Tấn. Sự dung hợp đầy đủ những yếu tố đó trong thơ ca của một thời đại là lí do thơ Đường được tôn vinh là di sản đặc sắc trong nền văn học trong nước và thế giới.

Luật thi được hình thành sau đời Đường khi thơ ca đã phát triển toàn diện và định hình. Luật thi quy định về  số chữ trong một cấu, số dòng trong toàn bài. Thơ Đường luật có các dạng chuẩn “thất ngôn bát cú” (tám câu, mỗi câu bảy chữ), và có các biến thể như “thất ngôn tứ tuyệt”, mỗi câu bảy chữ), ” ngũ ngôn tứ tuyệt” (bốn câu, mỗi câu năm chữ),”ngũ ngôn bát cú” (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác, “Thơ bài luật” là một dạng kéo dài của Đường luật, trong đó sự đối ngẫu có trong 6 câu trở lên, cả bài gồm 10 câu trở lên, theo tập quán, thường lấy số vần chẵn chục .. . cho nên thường chia rõ ràng bằng các chữ thập vận, nhị thập vận.

Thơ Đường luật nghiêm khắc ở 3 điểm: Luật, Niêm và Vần.

Luật chia thành luật bằng trắc, và luật đối. Luật bằng trắc của thơ Đường lưỡng phân thanh điệu thanh “thanh bằng” và “thanh trắc”. Đó là sự đối lập về âm thanh của các chữ thứ 2-4-6 trong một câu thơ . Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có “luật bằng”; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có “luật trắc”. Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi “thất luật”.

Còn luật đối là những quy định về sử dụng nghệ thuật đối trong một cấu và trong một liên. Đối là phương thức tổ chức lời văn bằng cách điệp cú pháp nhằm tạo hai vế, mỗi vế là một câu  tương đối hoàn chỉnh, được viết thành hai dòng cân xứng sóng đôi.  Đỗi ngẫu có từ trước, sử dụng phổ biến trong thơ ca nhưng đối trượng chỉ dùng trong thơ Đường.  Hình thức đối trượng người ta gọi là công đối. Công đối là hình thức đối đầy đủ cả về ý và và về thanh điệu, từ loại. Khoan đối đối rộng đối không chỉnh, đối lỏng. Liên thứ 3, thứ 4 trong một bài thất ngôn luật thi phải đối và nếu chuẩn là hình thức công đối.

Luật là cách thức tổ chức âm thanh trong một liên, và trong một câu của liên. Niêm là cách thức tổ chức âm thanh giữa các liên với nhau. Các câu trong một bài thơ Đường giống nhau về luật thì được gọi là “những câu niêm với nhau”. Hai câu thơ niêm với nhau khi âm thanh của những chữ thứ 2, 4, 6 trong một niêm tương đồng về mặt âm thanh, bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Ở những câu theo nguyên tắc là cần phải niêm, nếu tác giả sơ xuất mà làm thành không niêm thì bài đó bị gọi là “thất niêm”. Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:

  • câu 1 niêm với câu 8
  • câu 2 niêm với câu 3
  • câu 4 niêm với câu 5
  • câu 6 niêm với câu 7

Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Những câu này được gọi là “vần với nhau”. Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi “thất vận”. Trong một bài  thơ nếu câu đầu tiên gieo vần thì gọi là “thủ cú nhập vận”, và ngược lại gọi là “thủ cú bất nhập vận”. Bài thơ từ  đầu đến cuối gieo một vận gọi là “độc vận” Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là “vần chính”, những chữ có vần gần giống nhau gọi là “vần thông”. Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ

 

II. Ảnh hưởng của thơ Đường luật đến văn học Việt Nam.

2.1 Những tiền đề cho sự tiếp nhận Đường thi của văn học Việt Nam

Văn học Trung Quốc có ảnh hưởng sâu sắc đên văn chương Việt Nam. Mối quan hệ đó được hình thành từ  những năm Bắc thuộc, và tiếp tục phát triển cho đến những giai đoạn tiếp theo. Trong cuốn “thi pháp văn học trung đại Việt Nam”  giáo sư Trần Đình Sử có nhận xét về văn chương chữ Hán Việt Nam như sau: “Người Việt Nam hầu như đã di thực toàn bộ thể loại văn học của Trung Quốc vào Việt Nam với những quy mô và biến đổi khác nhau. Trước hết là các thể loại của sử học và các thể loại hành chính, sau đó là các thể loại thơ, phú và truyền kì, tiểu thuyết”. Trong mối quan hệ đó, Đường thi không thể không có ảnh hưởng đến văn học Việt Nam. Hơn nữa Việt Nam lại có một số yếu tố kích thích thi nhân sử dụng Đường thi để sáng tác. Thơ Đường ngay từ khi ra đời đã có ảnh hưởng khá đậm nét ở Việt Nam, và chỉ đến khi thơ mới những năm 30 của thế kỉ XX ra đời thì sáng tác thơ theo phong cách thơ Đường mới dần dần ít đi. Ở Việt Nam thơ Đường được sáng tác bằng hai ngôn ngữ chính là chữ Hán, và chữ Nôm. Dù là Nôm hay Hán đều có những sáng tác thơ Đường đạt đến mức điêu luyện. Thi nhân sáng tác thơ Đường như một thể thơ của dân tộc.

Để nói về những thuận lợi của việc du nhập thơ Đường vào văn thơ dân tộc,  trước hết, cần phải nói rằng thơ Đường luật có một kết  cấu chặt chẽ, ổn định. Tính chất mô hình hóa khá cao, đây là điểm khó khăn trong sáng tác nhưng lại tạo sự dễ dàng cho sự tiếp thu và chuyển hóa, mô hình càng chặt thì càng dễ đưa đi xa. Cũng như các nước trong khu vực, Việt Nam cũng tiếp thu phần ảnh hưởng của thơ đường.

Về mặt ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu phân tích rằng, trong thời kì Bắc Thuộc người An Nam có thể nói chuyện bình thường với người Trung Quốc. Cho nên những hình thức về âm điệu đời Đường không có gì xa lạ trong đời sống của người dân ta.

Vào đời Đường chính quyền phong kiến tăng cường hệ thống giảng dạy chữ Hán, để đọc được chữ Hán người việt đã dựa vào cách đọc của người Hán và đặc điểm ngữ âm của người Việt từ đó hình thành nên cách đọc Hán Việt. Mặc dù trong quá trình biến đổi ngữ âm của người Việt âm Hán Việt này cũng biến đổi nhưng về cơ bản cách đọc Hán Việt này vẫn còn tồn tại. Trong khi đó ở Trung Quốc sau đời Đường ngữ âm tiếng Hán tiếp tục biến đổi để hình thành nên tiếng Trung Quốc hiện đại, về mặc ngữ âm đã khác hẳn với đời Đường, vì thế có hiện tượng thơ Đường Luật không đúng với ngữ đặc điểm ngữ âm đương thời nhưng đúng với ngữ âm đời Đường. Quá trình đối chiếu người ta nhận thấy tiếng Việt đã lưu lại cách đọc chữ Hán đời Đường

Cách đọc hán Việt của người Việt bắt  nguồn hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường mà cụ thể là Đường âm dạy ở giao Châu vào giai đoạn bao gồm hai thế kỉ VIII, IX. Đến năm 938, khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán, thành lập một quốc gia độc lập thì những ảnh hưởng về ngôn ngữ dần dần ít đi. Trong khi ở Trung Quốc hệ thống ngữ âm tiếp tục phát triển nhiều biến đổi khác trước, thì âm đọc tiếng Hán đời Đường vẫn được giữ lại ở Việt Nam. Vì thế đôi khi ở trong tiếng hán hiện đại một số bài về gieo vần và luật bằng trắc không chuẩn nhưng ở trong tiếng Hán Việt thì lại rất chuẩn. Sự biến đổi âm Hán Việt trong lịch sử chỉ là sự biến đổi ở phụ âm đầu, âm đệm không biểu hiện ở phụ âm cuối âm tiết, ở thanh điệu, phần vần chỉ có sự khác biệt đôi chút không cơ bản. Vì thế có người nhận xét người Việt Nam đọc thơ Đường như Lí Bạch ngâm thơ của mình.

Hơn nữa, thơ Đường luật lại được đưa vào hệ thống thi cử nước ta. Ở Việt Nam từ khoa thi Giáp Thìn (1304) đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 12, thơ Đường luật đã được đưa vào khoa cử. Từ đó trở đi, môn thi thơ Đường luật là môn thi luôn có trong  phép thi các đời. Khi thơ Đường luật trở thành một môn thi bắt buộc thì việc làm thở Đường luật không chỉ là công việc sáng tác văn chương mà là việc học nghề , gắn liền với cơm áo và danh vọng.

 

2.2 Nhận diện thơ Đường trong bài Mạn hứng 2 của Nguyễn Trãi

2.2.1 Văn bản bài thơ “Mạn hứng2

v Nguyên văn

漫興

九萬摶風記昔曾

當年錯比北溟鵬

虛名自嘆成箕斗

後學谁將作準繩

一片丹心真汞火

十年清職玉壺冰

優游且復言余好

俯仰隨人謝不能

v Phiên âm

Mạn hứng

(1)Cửu vạn đoàn phong kí tích tằng,

(2) Đương niên thác tỉ bắc minh bằng

(3) Hư danh tự thán thành cơ đẩu

(4) Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng.

(5) Nhất phiến đan tâm chân hống hỏa

(6) Thập niên thanh chức ngọc hồ băng

(7) Ưu du thả phục ngôn dư hiếu

(8) Phủ ngưỡng tùy nhân tạ bất năng

v Dịch nghĩa

Vượt lên chín vạn dặm , nhớ xưa đã từng

Lúc bấy giờ lầm ví mình như chim đại bàng biển Bắc

(Được) cái hư danh than (mình) như sao Cơ sao Đẩu

Sau này học giả ai sẽ (lấy ta) làn cái mực cái thước.

Một tấm lòng son như lửa luyện đơn bằng thủy ngân,

Mười năm thanh chức như mảnh giá trong bình ngọc

Đùng đỉnh thung thăng hãy lại nói lên điều ta ưa thích

Ngửng lên cúi xuống theo người đời, xin từ chối không sao làm được.

v Dich thơ

Từng cỡi gió vẫy vùng vạn lí

Năm xưa ta làm vì chim bằng

“Đấu, Cơ” danh hão mà  thương

Ai làm mực thước cho làng hậu nho

Lòng son rực như lò luyện thủy

Tuyết băng trong xuất sĩ mười năm

Ung dung nói hướngta nhằm

Vào luồn ra cúi rằng can bất tài

(Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Phan Võ -  Lê Phước ,Đào Phương Bình dịch, NXB văn hóa, viện văn học, 1962, trang71)

 

2.2.2  Giới thiệu tác giả tác phẩm

Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai, quê Chí Linh Côn Sơn Hải Dương. Ông là một trong những bậc khai quốc công thần của nhà Lê, từng  phụ giúp Lê Thái Tổ đánh thắng quân Minh xâm lược. Hòa  bình lập lại  ông  tích cực đưa ra những cải cách . Tiếng là được vua tin dùng nhưng tư tưởng nghi thị khai quốc công thần của vua Lê,  tính mạng của Nguyễn Trãi thường xuyên bị đe dọa. Hơn nữa tuy là chức cao nhưng  thực chất quyền hạn không được là bao. Năm 1440 Nguyễn Trãi lui  về ở ẩn ở Côn Sơn. Năm 1442, sau vụ án Lệ Chi Viên Nguyễn Trãi nghi ngờ là mưu sát Lê Thái Tông, và bi tru di tam tộc. Đến đời vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi được giải oan và được phục hồi lại danh phẩm.

Bài thơ Mạn hứng 2 là nằm trong chùm thơ Mạn hứng 5 bài. Và được in trong tập thơ “Ức Trai thi tập” do Trần Khắc Kiệm biên soạn và đề tựa năm 1480. Tập thơ gồm 105 bài thơ chữ Hán

 

2.2.3 Biện biệt về niêm, luật, vần của bài thơ

a, Luật

Chữ thứ hai của câu đầu gieo vần trắc nên bài thơ thuộc “luật trắc”. Luật bằng chắc trong từng câu và trong từng liên đều đối rất chuẩn. Trong mỗi câu chữ thứ 2, 4,6 đối nhau. Và chữ thứ 2 của câu thứ nhất đối thanh với chữ thứ 2 của câu thứ hai, chữ thứ 4 của câu thứ nhất đối thanh với chữ thứ  4 của câu thứ hai, chữ thứ 6 của câu thứ nhất đối thanh với chữ thứ 6 của câu thứ hai,

Liên 1 :

(1)                T T B B T T B

(2)                B B T T T B B

Liên 2 :

(3)                   B B T T B B T

(4)                   T T B B T T B

Liên 3

(5)                   T T B B B T T

(6)                   T B B T T B B

Liên 4

(7)             B B T T B B T

(8)             T T B B T T B

Trong liên thơ thứ 2, thứ 3 có sừ dụng hình thức đồi

虛名自嘆成箕斗

後學谁將作準繩

Hư danh ><hậu học, tự thán ><thùy tác

一片丹心真汞火

十年清職玉壺冰

Nhất phiến băng tâm >< mười năm thanh chức, nhất và mười đều là số từ, thanh và đan đều chỉ màu sắc.

b, Niêm

Là sự phối hợp âm thanh giữa các liên với nhau. Cứ câu đầu liên này phối hợp với câu cuối của liên kia. chữ thứ 2 của câu thứ nhất đồng thanh với chữ thứ 2 của câu thứ hai, . chữ thứ 4 của câu thứ nhất đồng thanh với chữ thứ 4 của câu thứ hai, . chữ thứ 6 của câu thứ nhất đồng thanh với chữ thứ 6 của câu thứ hai,

Niêm 1:

(1)T T B B T T B

(8)T T B B T T B

Niêm 2

(2) B B T T T B B

(3) B B T T B B T

Niêm 3

(4)T T B B T T B

(5) T T B B B T T

Niêm 4

(6) T B B T T B B

(7) B B T T B B T

c, Vần

Vần : bài thơ gieo vần “ăng” ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 đây là bài thơ độc vận và “thủ cú nhập vận”.

 

2.2.4  Điển tích, điển cố trong bài thơ

-                      “九萬摶風” , “北溟鵬” là lấy tích trong sách Nam Hoa Tử ,  của Trang Tử.

Trong “Tiêu dao du”, có viết:

“ Biển Bắc có con cá gọi là cá côn, mình dài không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim gọi là chim bằng, lưng ronngj không biết mấy ngàn dặm, khi tung cánh bay thì cánh nó như đám mây trên trời. Biển ( Bắc) động thì nó dời về biển Nam, biển Ban là Ao trời.

Tề Hài là sách ghi những chuyện quái dị. Sách đó bảo khi con chim bằng dời xuống biển Nam, nó đập nước tung tóe lên ba ngàn dặm rồi nương gió lốc cuốn lên chim cao chín vạn dặm. Nó xuống biển Nam vào tháng sau, lúc gió nồi lên.”

Người ta dùng tích này để chỉ người tài chí hơn người, đứng trên tất cả. Con người đó giống như cánh chim Bằng biển Bắc, không chụi gò bó bởi bất cứ điều gì, và là người có tài năng và phẩm chất hơn người. Tuy trong bài thơ Nguyễn Trãi chỉ nói là “nhầm” ví mình như cánh chim Bằng nhưng đây cũng là một trong những minh chứng để người ta nghi ngờ vấn đề tư tưởng bá vương của Nguyễn Trãi.

-                     虛名自嘆成箕斗

箕斗 là tên hai ngôi sao trong nhị thập bát tú.trong Kinh thi  – Đại nhã có  câu “Duy Nam hữu cơ, bất khả dĩ bá dương

Duy Bắc hữu đẩu, bất khả dĩ tửu tương”

(Phương Nam có sao  cơ (hình giống cái nia) không thể dùng sàng sẩy được

Phương Bắc có sao đẩu (hình giống cái đấu) không thể dùng chứa rượu được)

ở đấy ý nói là vô dụng

Tô Đông Pha thời Tống cũng có câu thơ

“Ta quân diệu chất giai hồ liễn

Cố ngã hư danh đán cơ đấu”

Bài thơ được sáng tác trong thời gian Nguyễn Trãi làm công thần dưới triều vua Lê Thái Tổ. Nguyễn Trãi có khi được giữ chức vụ rất cao như Hàn lâm thừa chỉ, Lại bộ thượng thư ,nhập nội hành khiển, kiêm quản khu mật viện… thế nhưng nhiều chính sách cải cách của ông không được thực hiện nên ông tự gọi đó là những hư danh.

-                     “一片丹心” : Là một thành ngữ của trong Đường thi để chỉ tấm lòng son sắc. Đỗ Phủ cũng có câu:

白髮千莖雪

丹心一寸灰

“Bạch phát thiên hành tuyết

Đan tâm nhất thốn hôi”

 

III. Kết luận

Từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận là bài thơ thuộc thể thất ngôn luật thi. Đảm bảo về những quy định nghiêm ngặt của thơ luật. Chỉ 56 chữ nhưng bài thơ đủ sức tái hiện được tâm trạng của Nguyễn Trãi những ngày làm quan dưới triều Lê.Sự u uất trong việc không có thực quyền. Nhận thấy răng đây cũng không phải là một bài thơ hết sức đặc sắc. Thông thường một bài Đường thi chuẩn thì ở cả liên 2, liên3 đều vận dụng hình thức công đối, bài thơ có sử dụng hình thức đối  nhưng chưa phải là công đối. Tuy nhiên đây cũng là một minh chứng rằng đường thi có ảnh hưởng sâu đậm đến thơ ca Việt Nam, và các tác gia văn học Trung đại Việt Nam nắm rất chắc về vần, thanh điêu của thơ Đường.

 

About these ads

2 phản hồi

  1. click here nói:

    Thank you, I have recently been searching for info about this topic for ages and yours is the best I have found out so far. However, what concerning the conclusion? Are you certain concerning the supply?

    • TRAN XUAN nói:

      Hi you guy, thank so much for your comment, actually this was my midle term for Chinese literature history course when I was second year student at university (so I am not sure about its quality). I had nearly forgotten it before your commnet. to be honest, I posted it here when I had to set up a blog for other course and at that time term paper was the only things I owned. About the conclusion, I think the only concerning is how to criticize a Tangshi from the perspective of poetics. So I don’t care so much about the content of this poem. ^^

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: