Trang chủ » Dịch thuật » Vận đồ (in trongDương Kiếm Kiều, Hán ngữ âm vận học giảng nghĩa, Phúc Đán ĐH XBX, 2005

Vận đồ (in trongDương Kiếm Kiều, Hán ngữ âm vận học giảng nghĩa, Phúc Đán ĐH XBX, 2005

Vận đồ còn gọi là “Đẳng vận đồ”, “Đẳng vận biểu”, là một loại biểu đồ ghép âm mà kết hợp cả thanh, vận, điệu với nhau. Chúng ta miêu tả một hệ thống ngữ âm, có thể dùng phương pháp văn tự để diễn giải, nói rõ hệ thống ngữ âm này có bao nhiêu thanh mẫu, bao nhiêu vận mẫu, bao nhiêu thanh điệu, quan hệ phối hợp giữa chúng như thế nào… Nhưng đối với những người bình thường không có kiến thức về ngôn ngữ học mà nói, phương pháp dùng văn tự để diễn giải thì hoàn toàn không thích hợp, trái lại, biểu đồ phối hợp của thanh vận điệu sẽ mang lại hiệu quả nhìn qua là hiểu, ghi nhớ lại thuận tiện. Đặc biệt là Vận thư thời Ngụy Tấn trở đi, đại đa số đều là lấy thanh điệu làm hàng ngang, lấy vận bộ làm hàng dọc, tình hình thanh mẫu và vận mẫu hoàn toàn không thể biểu thị rõ ràng, quan hệ phối hợp của thanh vận điệu cũng không thể thể hiện ra. Các nhà Đẳng vận học cuối Đường đầu Tống được gợi mở của bản chữ Phạn Tất huyện chương đã nhận ra khuyết điểm này của vận thư, từ đó sáng tạo ra Đẳng vận đồ.

Phương pháp sắp xếp mỗi đồ của Vận đồ thông thường có hai loại:

Loại thứ nhất lấy Vận kính làm ví dụ, đầu tiên, đồ biểu lấy những cột lớn để chú thanh mẫu, thanh mẫu dựa vào bộ vị phát âm phân thành 7 cột dọc thần âm (âm môi), thiệt âm (âm lưỡi), nha âm (âm răng hàm), xỉ âm (âm răng cửa), hầu âm (âm họng) và thiệt xỉ âm (âm răng lưỡi), trong 7 cột dọc đó lại dưa theo phương pháp phát âm của thanh mẫu để phân thành thanh, thứ thanh, trọc, thứ trọc (tức là toàn thanh, thứ thanh, toàn trọc, thứ trọc), lần lượt xếp vào Tam thập lục tự mẫu (36 tự mẫu): bang, bàng, tịnh, minh (phi, phu, phụng, vi), đoan thấu định nên (trị triệt trừng nương), kiến khê quần nghi, tinh thanh tùng tâm tà (chiếu xuyên sàng thẩm thiền), ảnh hiểu hạp, dụ lai nhật. Đáng được chú ý là, trong hàng ngang của tam thập lục tự mẫu chỉ sắp xếp thành 23 hàng dọc, trong đó bang, bàng, tịnh, minh cùng với phi, phu, phụng, vi hợp trong cùng một cột; đoan, thấu, định, nê cùng với tri, triệt, trừng, nương hợp trong cùng một cột; tinh, thanh, tùng, tâm, tà cùng với chiếu, xuyên, sang, thẩm, thiền hợp trong cùng một cột; đó chính là ý mà Trương Lân Chi trong Vận kính tự tác gọi là “Nhật thể dĩ nhất chỉ liệt nhị thập tam tự mẫu vi hàng, dĩ tung hàng thiên thượng, kì hạ gian phụ nhất thập tam tự mẫu, tận vu tam thập lục, nhất mục vô di” (theo cách xưa lấy một tờ giấy xếp 23 tự mẫu thành một hàng, dựa theo cột ở trên, ở phía dưới phụ thêm 13 tự mẫu, tất cả 36, không bỏ xót một mục nào). Tiếp theo, biểu đồ ở dưới thanh mẫu, lấy bình thượng khứ nhập phân thành 4 hàng ngang lớn, mỗi hàng lại lấy tứ đẳng phân thành 4 hàng dọc, lần lượt thay thế cho nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng, tứ đẳng. Như chuyển thứ 23 của Vận kính các chữ “đan, than, đàn, nan, can, khan, san, an, hàn, lan” ở trong hàng ngang nhất đẳng bình thanh (đẳng thứ nhất của bình thanh), các chữ “biện, miễu, triển, sấn, kiển, kiện, xiển, thiện, liễn” ở trong hàng ngang tam đẳng thượng thanh (đẳng thứ ba của thượng thành), các chữ “gián, nhạn, sản, sán, án” ở trong hàng ngang nhị đẳng thượng thanh (đẳng thứ hai của thượng thanh), các chữ “miết, mậu, thất, thiết, niết, kết, tiết, thiết, ế” ở trong hàng ngang nhập thanh tứ đẳng (đắng thứ tư của nhập thanh).

Thứ nữa, cột ngoài cùng bên phải đồ biểu là để đánh dấu nội ngoại chuyển (nội chuyển và ngoại chuyển), thứ tự của đồ và khai hợp khẩu (khai khẩu và hợp khẩu). “Nội chuyển” là chỉ nhiếp không có Độc lập nhị đẳng vận, như tám nhiếp: thông, chỉ, ngụ, quả, đãng, tăng, lưu, thâm; “Ngoại chuyển” là chỉ nhiếp có Độc lập nhị đẳng vận, như tám nhiếp: giang, giải, trăn, sơn, hiệu, giả, ngạnh, hàm.[1] Trong hàng ngang đó, có khi còn phụ thêm tự dạng “khứ thanh kí thử” (khứ thanh gửi ở đây), biểu thị ngoài những chữ được liệt kê thì hoàn toàn không phải là nhập thanh, mà là khứ thanh. Như chuyển thứ 9 của Vận kính chữ của vận phế đặt vào hàng ngang nhập thanh.

Tiếp theo, cột ngoài cùng bên trái đánh dấu vận mục của 206 vận trong Quảng Vận, mỗi vận mục dựa vào thanh điệu và đẳng của vận mà nó thay thế, xếp vào ô hàng ngang của thanh điệu này và bên cạnh hàng ngang của đẳng này. Như chuyển thứ 23 của Vận kính, “hàn” xếp vào bên cạnh hàng ngang của các chữ đẳng thứ nhất của bình thanh “đan, than, đàn, nan, can, khan, san, an, hàn, lan”, biểu thị các chữ này là chữ vận hàn; “tiển” xếp vào bên cạnh hàng ngang của các chữ đẳng thứ nhất của thượng thanh “biện, miễn, triển, sấn, kiển, kiện, xiển, thiện, liễn”, biểu thị các chữ này là chữ vận tiển; “gián” được xếp vào bên cạnh hàng ngang của các chữ đẳng thứ hai của khứ thanh: “gián, nhạn, sản, san, yến”, biểu  thị các chữ này là chữ vận gián; “Tiêu” được xếp vào bên cạnh hàng ngang các chữ đẳng thứ tư của nhập thanh như “miết, mậu, thất, thiết, niết, kết, tiết, thiết, ế”, biểu thị các chữ này là chữ vận Tiêu. Có khi trong một vận bộ của Quảng Vận kiêm cả nhất đẳng và nhị đẳng (hoặc nhị đẳng và tam đẳng), trong vận đồ cũng chỉ xếp vào một vận mục đồng thời thể hiện nhị đẳng và tam đẳng (hoặc là nhị đẳng và tam đẳng). Như chuyển thứ nhất của Vận kính chỉ xếp “đông”, đồng thời thể hiện các chữ thuộc đẳng thứ nhất của vận Đông“bồng, đông, công ,tùng, ông, lung” và các chữ đẳng thứ ba của vận Đông “phong, trung, cung, đông, hùng, long”.

Cuối cùng, đồ biểu lấy thanh mẫu làm đường dọc, lấy vận mẫu làm đường ngang,  tại nơi đường nganh và đường dọc cắt nhau danh sách các chữ đại diện cho tiểu vận trong Quảng vận (có khi là Tập vận).

Loại thứ hai lấy Tứ thanh đẳng tử làm ví dụ, hàng đầu tiên của nó là danh sách tam thập lục tự mẫu chia thành các cột dọc, sau đó dựa theo tứ đẳng phân thành bốn hàng ngang lớn, sau đó ở trong mỗi ô hàng ngang của một đẳng, lại phân thành 4 hàng bình, thường, khứ, nhập; đồng thời bên cạnh mỗi hàng ngang đánh dấu vận mục của Quảng Vận, cuối cùng cũng là lấy thanh mẫu làm hàng dọc, vận mẫu làm hàng ngang, tại điểm mà đường dọc đường ngang giao nhau là danh sách các chữ đại diện của tiểu vận.

 

 

Hết sức rõ ràng, phương thức sắp xếp này của vận đồ có thể liệt kê tất cả các âm tiết của một hệ thống ngữ âm, quan hệ phối hợp giữa thanh, vận , điệu cũng hiện ra một cách rõ ràng. Đây chính là điểm mà Vận thư và Phiên thiết không thể sánh được với Đẳng vận đồ.

Đẳng vận đồ trong lịch sử có thể phân thành hai phái lớn là phái Tống, Nguyên và phái Minh, Thanh, Đẳng vận đồ thời kì đầu và thời kì giữa thuộc về phái Tống Nguyên, hệ thống ngữ âm mà nó thể hiện phù hợp với hệ thống ngữ âm của Quảng vậnBình thủy vận; Đẳng vận đồ thời kì cuối thuộc về phái Minh, Thanh, hệ thống ngôn ngữ mà nó thể hiện thì phù hợp với hệ thống ngôn ngữ của các vận thư theo âm miền bắc như Trung nguyên âm vận. Đẳng vận thư thời kì đầu còn truyền lại có Vận kínhThất âm lược, chúng đều xếp thành 43 đồ, khai khẩu hô và hợp khẩu hô không cùng một đồ, mỗi đồ chia đều cho 4 đẳng, cùng một vận mà có khai hẩu hô và hợp khẩu hô thì làm thành hai hô tám đẳng, tập hợp 206 vận, hợp với Quảng vận, mà chữ đại diện của tiểu vận trong Quảng vận trên vận đồ cũng ở những vị trí khác nhau. Cho nên những vận đồ này có thể làm chứng cứ của hệ thống ngữ âm của các sách vận thư như Quảng Vận. Đẳng vận đồ thời kỳ giữaTứ thanh đẳng tử, Thiết vận chỉ chưởng đồ, Kinh sử chính âm thiết vận chỉ nam… chúng dựa theo sự biến hóa của thực tế ngữ âm, đem 43 chuyển của Vận kínhThất âm lược hợp thành 16 nhiếp, cho nên phân thành rất ít đồ. Như Tứ thanh đẳng tử làm 20 đồ, khai hợp vẫn không cùng một đồ, mỗi đồ lại có 4 đẳng, cùng một vận mà có hợp khẩu hô và khai khẩu hô vẫn là hai hô 8 đẳng, thế nhưng nó tuy rằng thu thập 206 vận nhưng luôn luôn có vận hợp trong cùng một hàng, cho nên có thể dùng để khảo cứng cho sự chuyển biến từ âm trung cổ sang âm cận đại. Đẳng vận đồ của thời kì cuối có thể lấy đại biểu là Tự mẫu thiết vận yếu pháp trong quyển thứ nhất Khang Hi tự điển, đồ này tiến thêm một bước 16 nhiếp làm thành 20 nhiếp, khai khẩu và hợp khẩu cùng một đồ, đồng thời hai hô tám đẳng phân thành bốn hô khai, tề, hợp, nhiếp, cho nên có thể là căn cứ nghiên cứu cho âm cận đại.

Đương nhiên, vì cổ đại không có tri thức của âm vị học hiên đại, lại vì giới hạn của một bức đồ, làm ra các đồ vận còn tồn tại rất nhiều thiếu sót và sai lầm, đó chính là điểm cần chú ý. Ví dụ trong Đẳng vận học có cách nói là “giả nhị đẳng”, “giả tứ đẳng”, “giả nhị đẳng” chính là chỉ một số chữ nào đó ở Trang tổ của đẳng thứ ba của một vận nào đó, căn cứ vận mẫu của chúng vốn nên đặc trong các ô thuộc đẳng thứ ba của vận đồ, nhưng vì Đẳng vận học quy định các ô của đẳng thứ ba bị các chữ của thanh mẫu Chương tổ chiếm dụng, vì thế các chữ thanh mẫu Trang tổ cũng bị xếp vào các ô của đẳng thứ hai, đó là những chữ thanh mẫu Trang tổ thực ra không phải là những chữ thuộc đẳng thứ hai, cho nên gọi là “Giả nhị đẳng”. Chữ “sùng” trong “nội chuyển đệ nhất khai” (khai thứ nhất trong nội chuyển) và bốn chữ “thư, sơ, tư, sơ” trong “nội chuyển để thập nhất khai” (khai thứ 11 trong nội chuyển) của Vận kính “Giả nhị đẳng tự”. “Giả tứ đẳng” chính là để chỉ chữ thanh mẫu Tinh tổ của tam đẳng vận đồ và so sánh với tự mẫu tứ thanh, căn cứ vào vận mẫu của nó thì vốn nên xếp vào trong các ô thuộc đẳng thứ ba của vận đồ, nhưng vì đẳng vận học quy định các ô của tam đẳng do các chữ thanh mẫu tổ chương chiếm dụng, vì thế những chữ thanh mẫu tổ tinh và tứ thanh tự mẫu được xếp vào các ô của tứ đẳng, những chữ thanh mẫu tổ tinh và dụ tứ thanh tự mẫu thực ra không phải là các chữ của tứ đẳng vì thế gọi là “giả tứ đẳng”. Chữ “sùng” trong “nội chuyển đệ nhất khai” (khai thứ nhất trong nội chuyển) và bốn chữ “thư, sơ, tư, sơ” trong “nội chuyển để thập nhất khai” (khai thứ 11 trong nội chuyển) của Vận kính đều là “Giả nhị đẳng tự”.


[1] Cái gọi là “Độc lập nhị đẳng vận” (vận bộ độc lập thuộc nhị đẳng) là các vận bộ mà tất cả tiểu vận đều chỉ sắp xếp trong ô nhị đẳng của vận đồ, từ góc độ vận đồ nói ngược lại là, chỉ các vận bộ trong các ô vuông nhị đẳng của ngũ âm thần, thiệt, xỉ, nha, hầu đều có chữ.  Độc lập nhị đẳng vận của Quảng Vận có 12 vận bộ: giang, giai, giai, ương, san, san, hào, ma nhị, canh nhị, canh, hàm, nhai. Trong nhiếp Trăn không có Độc lập nhị đẳng vận, nhưng vận Trăn trong nhiếp trăn trên vận đồ chỉ chiếm dụng một ô của nhị đẳng, người xưa cho rằng phù hợp với định nghĩa Độc lập nhị đẳng vận, vì thế xếp nhiếp trăn nhập vào “ngoại chuyển”.


3 Bình luận

  1. Vô danh nói:

    Đọc xong bài này vẫn chưa hình dung được, giá có thêm cái bảng biểu hoặc cái gì đại loại thế sẽ hình dung dễ hơn.

    • TRAN XUAN nói:

      hì hì, em cũng thấy thế, lúc nộp bài cho thầy Cường em nói rằng dùng vận đồ để miêu tả hệ thống ngữ âm thì rất dễ hiểu, nhưng dùng ngôn ngữ để miêu tả lại vận đồ thì không dễ hiểu thế nào! :)))

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: