Trang chủ » Dịch thuật » TÌNH HÌNH CHUNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA NGHIÊN CỨU TAM LỄ” (Dịch)

TÌNH HÌNH CHUNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA NGHIÊN CỨU TAM LỄ” (Dịch)

Nội dung đề yếu : Chu Lễ, Nghi Lễ , Lễ Ký hay thường gọi là Tam lễ, là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa học thuật truyền thống. Học thuật Càn Gia hưng khởi, học thuật Tam Lễ rất thịnh vượng, những tác phẩm nổi tiếng như Lễ kinh thích lệ của Lăng Đình Kham, Ngũ lễ thông khảo của Tần Huệ Điền, Nghi Lễ chính nghĩa của Hồ Bồi Huy, Lễ thư thông cố của Hoàng Dĩ Chu, Chu Lễ chính nghĩa của Tôn Di Nhượng… Cuối thời cận đại đến nay, Lễ học suy vi nhưng vẫn không bị gián đoạn. Thời gian gần đây, tuy thấy dấu hiệu sống lại,  nhưng còn rất nhiều vấn đề. Mục đích chính của bài nghiên cứu này không phải để điểm nhặt những trức tác luận bàn Lễ học hiện nay, mà thử vẽ lên khái quát những xu thế học thuật, chỉ ra những vấn đề để giới học thuật suy ngẫm và khảo xét.

Từ khóa : Tam Lễ, Kinh học, Môi trường học thuật, Nhân tài Lễ học

******

I. Chỉnh lí kinh điển Lễ học thời kì cận hiện đại

Việc nghiên cứu Lễ học trong 30 năm trở lại đây, đã khởi bước từ việc chỉnh lí kinh điển Lễ học. Trước Cách mạng Văn hóa, giới học thuật không có bản hiệu đính của Tam lễ chú sớ được lưu hành đơn lẻ. Bản Tam lễ chú sớ mà giới học giả thường dùng là bản trong bộ “Thập tam kinh chú sớ” do Nguyễn Nguyên chủ trì, Nam Xương phủ học khắc in vào năm Gia Khánh 21.

Năm 1980, Trung hoa thư cục căn cứ vào bản khắc của Nguyễn Nguyên  được Thế giới thư cục in thu nhỏ, sau khi sửa lại và xuất bản ảnh ấn, phục vụ cho nhu cầu cấp thiết của giới học thuật. Chỉ tiếc rằng bản này hàng dày chữ nhỏ, đọc lâu sẽ có hại cho mắt.

Sau đó, Trung Hoa thư cục quyết định lần lượt chỉnh lý và xuất bản Thanh nhân chú sớ thập tam kinh. Cuốn Chu Lễ chính nghĩa của Tôn Di Nhượng do Vương Văn Cẩm tiên sinh hiệu đính là một trong những bản được đề xuất sớm nhất trong số đó. Nhưng số thiên quyển của Chu Lễ chính nghĩa quá nhiều, nội dung đề cập đến lại tương đối phức tạp, một số học giả nổi tiếng đương thời cho rằng cuốn này hơn khó, vốn khó có thể sửa đổi. Nhưng qua sự nỗ lực nhiều năm của ông Vương, tác phẩm hoàn chỉnh, nhận được nhiều lời tán thưởng của giới học thuật. Sau đó, Trung hoa thư cục lần lượt chọn ra để xuất bản có nhiều loại như cuốn Lễ Ký chú giải của Tôn Hi Đán, Lễ Ký huấn toản của Chu Bân, Đại Đái Lễ Ký giải hỗ của Vương Sính Trân, Lễ thư thông cố của Hoàng Dĩ Chu và rất nhiều sách khác, có những cống hiến lớn đối với giới học thuật.

Sau những năm 90 của thế kỷ 20, giới học thuật bắt đầu chỉnh lý bản Thập tam kinh chú sớ thời Hán Đường. Năm 1999, Bắc Kinh đại học xuất bản xã đã xuất bản hiệu đính của Thập tam kinh chú sớ do Lý Học Cần chủ biên. Cũng cùng thời gian đó, Đài Loan cũng cho xuất bản bản hiệu đính của Thập tam chú sớ do Chu Hòa tiên sinh chủ trì biên soạn.

Đối với thành công và tồn đọng của Thập tam kinh chú sớ được chỉnh lý ông Dã Gian Văn Sử của Đại Học Hirosima Nhật Bản đã từng có lời bình thuật, cho rằng mỗi bản đều có thành tích, nhưng mỗi bản đều có những vấn đề học thuật nên tránh. Hai bản Thập tam kinh chú sớ đã thuật ở trên đều lấy bản khắc của Nguyễn Nguyên làm bản gốc chỉnh lý mà thành, mà bản của Nguyễn Nguyên này lại lấy “Thập hàng bản” (bản “Thập tam kinh chú sớ” thời Tống được khắc trên gỗ, mỗi mặt 10 hàng chữ) được cất trữ trong Văn tuyển lầu tại Dương Châu vào thời Nam Tống làm bản gốc. “Thập hàng bản” sai sót khá nhiều, rườm rà lộn xộn, thậm chí đã xuất hiện những lỗi sai mới là “bản gốc không sai, nhưng bản họ Nguyễn lại sai”, cho nên, đến Nguyễn Nguyên cũng đều không cho là bản tốt.

Văn bản của Thập tam kinh chú sớ thời Nam Tống, ngoài “Thập hành bản” còn có “Bát hành bản” được tàng trữ trong Nội phủ. Trong đó, Chu Lễ chú sớ Lễ kí chú sớ là do Trà Diêm Ti ở Lưỡng Chiết Đông Lộ san khắc, có niên đại sớm hơn “Thập hành bản”, nội dung cũng tốt hơn “Thập hành bản”. Năm 1990, phát động công tác chỉnh lí bản Thập tam kinh chú sớ thời Hán Đường lấy Bát hành bản làm bản gốc, do ông Trương Khởi Chi chủ trì. Vì bản này không có “Nghi lễ chú sớ” nên đã lấy sớ bản “Nghi lễ sớ” của Cảnh Đức Quan để bổ sung vào. Bản điểm hiệu“Chu lễ sớ”, “Nghi lễ chú sớ”, “Lễ kí chú sớ” đã hoàn thành trước và được Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã xuất bản năm 2008. Bởi “Bát hành bản” sai sót khá ít, không chỉ lỗi sai sót trong hiệu đính giảm trên 1/3 so với bản Nguyễn Nguyên, đồng thời chỉ ra không ít những lỗi sai mới trong bản Nguyễn Nguyên. Nhưng, vì việc mới lần đầu tiên hiệu định Thập tam kinh chú sớ, mà chuẩn bị của giới học thuật đến vấn đề này cũng chưa đủ , vì vậy nên bản hiệu đính nói ở trên về chất lượng  vẫn còn tồn tại một số vấn đề nhất định, nên ngày sau này cần có một làm công tác chỉnh lí.

II. Việc nghiên cứu kinh truyện Tam Lễ

2. 1. Chu Lễ

Trong cả thế kỷ 20, việc nghiên cứu “Chu Lễ”có thể nói rất xuất sắc.  Trong 50 năm đầu là những tác phẩm của những nhà nghiên cứu nổi tiếng như Tân học ngụy kinh khảo của Khang Hữu Vi, Luận Tần chỉ cấp (Chu Quan) thư của Hồ Thích, Chu quán trứ tác thời đại khảo” của Tiền Mục, Chu quan chất nghi của Quách Mạt Nhược. Trong 50 năm sau, thời kỳ này vẫn tiếp tục thế mạnh ấy với những tác phẩm như: Phân tích nội dung của Chu  Lễ và thời kỳ sáng tác của nó của Dương Hướng Khuê, Truyền thuyết về việc Chu Công chế lễ và sự xuất hiện của bản “Chu quan” của Cố Hiệt Cương, Thời đại Chu Quan được thành lập và tính cách tư tưởng của nó của Từ Phục Quan, Tìm tòi mới về niên đại thành sách của Chu Lễ của Trần Liên Khánh, Những khảo sát mới về việc thành sách Chu quan và những phản ánh về văn hóa và thời đại của nó của Kim Xuân Phong, đó là điểm chính nổi bật của giai đoạn này. Nhiều danh gia như thế đầu tư nghiên cứu “Chu lễ” là hiện tượng hiếm gặp trong nghiên cứu kinh tịch.

Việc nghiên cứu Chu Lễ ở thời kỳ này còn được trợ giúp của việc nghiên cứu văn khắc trên đồ đồng của thời Đông Chu và Tây Chu . Những năm đầu như : Khảo lược tên các vị quan thời Chu của Dương Tuân Như, Chu Quan chất nghi của Quách Mạt Nhược, Khảo sát các chức quan thấy trong kim văn của đời Tây Chu của Cơ Duy Chí, Khảo sát tên các quan thấy trong kim văn của Từ Tông Nguyên, là những tác phẩm đi tiên phong; Trong những năm 80  của thế kỷ 20 thì có bài viết Nghiên cứu về chế độ quan lại trong kim văn ở thời Tây Chu” của Trương Á Sơ và Lưu Vũ.

Tuy nhiên, những nghiên cứu về Chu Lễ của thời kỳ này đã hoàn toàn không giống với thời kỳ Càn Gia (Càn Long và Gia Khánh). Mọi người đều biết rằng, từ xưa cho đến nay, thuyết “lục kinh giai sử”  đã bắt đầu được lưu hành. Phủ định đặc thù của kinh học, đưa kinh điển trở thành văn hiến lịch sử thông thường, chỉ thuần túy sử dụng phương thức sử học để thảo luận những vấn đề kinh học, trở thành một phong khí một thời. Nghiên cứu về Chu Lễ cũng từ con đường kinh học chuyển sang con đường sử học, điểm nóng trong  các cuộc thảo luận là thời gian thành sách, hoàn cảnh xã hội và sự hình thành tư tưởng của Chu lễ v.v… Cần phải đề cập là, những nhà nghiên cứu Chu Lễ nói trên đa số là có điều kiện luyện tập kinh điển rất tốt, cho nên dù là có sự khác nhau nhưng những gì nói ra thì tất có nguyên do và lời nói cũng có nghĩa lí nhất định.

2. 2. Nghi Lễ

Nghi Lễ thời cổ được coi là khó đọc, các học giả am hiểu về nó chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong 50 năm trước thế kỷ 20, những nghiên cứu về Nghi Lễ tương đối ít ỏi, mờ nhạt, chỉ một số ít những người am hiểu về nó. Trong 50 năm sau, nhờ vào những thành tựu của giới khảo cổ học, việc nghiên cứu Nghi Lễ trên thực tế đã có sự tiến trển lớn. Những năm 50 đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ đã khai quật được một loạt những chiếc quan tài gỗ thời Chiến Quốc được gìn giữ tương đối hoàn chỉnh ở các vùng như quận Ngũ Lý Bài thành phố Trường Sa, hồ Ngưỡng Thiên, núi Tả Gia Công , vịnh Dương Gia …

Sau đó, tiên sinh Trần Công Nhu liền có bài nghiên cứu “Chế độ mai táng được ghi lại trong Sĩ táng lễ và Kí tịch lễ”, tiến hành đi sâu nghiên cứu hình thức mộ táng, cho rằng về đại thể thì những phát hiện khảo cổ đó khớp với chế độ tang tế được ghi trong Nghi lễ. Trần tiên sinh là học giả đầu tiên dùng Nghi Lễ để làm công tác so sánh nghiên cứu với những tư liệu, hiện vật của mộ táng thời Tiên Tần, có ảnh hưởng lớn đến giới khảo cổ, lịch sử học vẫn còn chưa ý thức được giá trị của Nghi lễ. Hai năm sau, nhà Lễ học nổi tiếng Thẩm Văn Trác đã viết bài “Một số ý kiến đối với bài “Chế độ mai táng được ghi lại trong Sĩ táng lễ và Kí tịch lễ””, đưa ra một số luận bàn đối với bài viết của ông Trần dước góc nhìn của kinh học. Thẩm tiên sinh đã nghiên cứu tỉ mỉ về Nghi Lễ, phân tích tỉ mỉ từng chỗ để làm sáng tỏ và giải quyết một số những vấn đề khó và quan trọng. Những thảo luận của hai học giả Thẩm tiên sinh và Trần Tiên sinh là những nghiên cứu chất lượng nhất về Nghi Lễ sau khi nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa thành lập.

Một sự kiện phát hiện khảo cổ trọng khác đại thúc đẩy việc nghiên cứu Nghi lễ trong thế kỉ20 là  đó là: vào tháng 7 năm 1957, giới khảo cổ tìm được 1 loạt ván gỗ, thẻ tre Nghi Lễ trong khi khai quật một số ngôi mộ thời Hán ở số 6 Ma Thư Tử, huyện Vũ Uy, tỉnh Cam Túc. Tổng cộng có 469 tấm thẻ tre, phân làm 3 bản :

–            Bản thứ nhất  là ván gỗ, có 7 thiên là “Sĩ tương kiến”, “Phục truyện”, “Đặc sinh”, “Thiếu lao”, “Hữu tư”, “Yến lễ”, “Thái xạ”;

–            Bản thứ hai cũng là ván gỗ, chỉ vỏn vẹn có 1 thiên “Phục truyện”;

–            Bản thứ ba là thẻ tre, chỉ vỏn vẹn có 1 thiên “Tang phục”.

Việc khai quật những thẻ tre thời Tây Hán chỉ riêng kinh hoặc riêng truyện của thiên “Tang phục”, không chỉ khiến cho người ngày nay thấy được diện mạo thật bản lưu truyền thời Hán, mà còn đưa ra những căn cứ đang tin cậy trong việc xem xét và sửa chữa thời gian tuyển tác của thiên “Tang phục truyện” và việc xác nhận mối quan hệ phát triển của kinh và ký, kinh kí và truyện.

Người chỉnh lí chủ yếu thẻ tre đời Hán ở Vũ Uy – Trần Mộng Gia tiên sinh cho rằng, bản san kinh san kí ở trong bản thứ nhất và bản thứ hai, được biên soạn vào “Nghi tại Cam Lộ chi hậu”, sau đó Trịnh Huyền hợp biên phần kinh truyện cho “Tang phục”; Bản “Phục truyện” ở bản thứ nhất và thứ hai ra đời từ học phái Khánh Phổ.

Sau đó Thẩm Văn Trác tiên sinh viết một số bài như “ Sơ lược về việc thực hành điển lễ và việc biên soạn sách Nghi Lễ”, “Khảo về các thẻ tre phần “Phục truyện” đời Hán”, giải quyết toàn bộ các vấn đề liên quan đến các thẻ tre của thiên “ Phục truyện”, cùng với việc chất vấn những kết luận mà Trần Mộng Gia đã đưa ra, đã đưa ra rất nhiều kết luận mới như:

–            “Phục truyện” là một phần truyện đơn lẻ tách khỏi kinh và lưu truyền độc lập;

–            Chữ  “kí” mà bản hiện nay dùng là để phân biệt “Tiền kinh hậu kí”, là người sau đời Hán thêm vào, Kinh và Kí phụ theo kinh, là hai bộ phận được biên soạn cùng một lúc của cuốn sách.

–            Hai chữ “ truyện viết” (truyện nói rằng) trong kim bản “Phục truyện” cũng là do các nhà biên soạn đời sau thêm vào;

–            Kim bản đề “Tử Hạ truyện”, cũng giống như thạch kinh thời Đường, thuyết cho rằng Tử Hạ biên soạn phần truyện là không đủ độ tin cậy;

–            Thiên “Phục truyện” được viết ra dưới ảnh hưởng nặng nề của “ Lễ Ký”, thời gian tuyển của nó sớm nhất cũng phải sau khi các hoàn thành các cuốn sách bàn luận về lễ  – Lễ kí, muộn nhất là trước năm Tần Thủy Hoàng thứ 34 phần thư khanh nho.

Thẩm tiên sinh lại có một bài “Từ sự hình thành bản kinh Kim văn thời Lưỡng Hán nói về việc truyền thụ bản kim văn kinh Lễ thời Lưỡng Hán”, thảo luận những vấn đề về “Khánh Thị Lễ học”. Căn cứ vào những ghi chép của Hán Thư thì Kim văn kinh Lễ có 3 nhà là Đại Đái, Tiểu Đái và Khánh Thị, đều được xác lập quan học. Nhưng trong 14 bác sĩ Ngũ kinh thời Đông Hán thì không có Khánh thị. Trong cuốn Khảo các bác sĩ thời Hán Ngụy của Vương Quốc Duy cho rằng phải tính cả Khánh thị, như thế thì có 15 bác sĩ. Thẩm tiên sinh cho rằng, từ thời Tần Hán đến nay, Lễ có 2 hệ thống song song là Thái thường bác sĩ và Lễ Kinh bác sĩ. Những năm cuối thời Vũ đế, Hậu Thương viết xong cuốn  Hậu thị Khúc đài ký, thì lập làm bác sĩ, Kim văn học Kinh lễ chính thức được thành lập. Mà Thái thường nắm quyền quản lí nghi lễ của triều đình, để tư vấn cho hoàng đế, mà đại biểu chính là Thúc Tôn Thông. Khánh Thị học là sự truyền thừa của Thúc Tôn Thông, làm quan Chức Chí chuyên tu đính lễ nghĩ thời Hán, không có quan hệ gì với Bác sĩ kinh lễ của ngũ kinh. Vì Khánh Phổ đã từng là đệ tử của Hậu Thương nên từng nhầm lẫn rằng Khánh Phổ là một trong những gia pháp Hậu thị. Quan điểm của Thẩm tiên sinh đã giải quyết được mối nghi ngời lớn trong lịch sử Lễ học, đây là thành tựu mà các nhà Càn Gia thời nhà Thanh chưa từng đạt được.

2. 3. Lễ Ký

Lễ Ký vốn là phần kí phụ theo Nghi L, nội dung của nó quá nửa là liên quan đến Nghi lễ. Cho nên phải hiểu thông được Nghi lễ mới có thể hiểu được Lễ ký, mà bản thân Nghi lễ vốn đã không dễ hiểu, bởi vậy việc nghiên cứu Lễ ký lại càng không dễ. Độ dài của Lễ Ký ở giữa Chu LễNghi Lễ nội dung rất phức tạp, các học giả nghiên cứu Lễ Ký đời Thanh chưa thể viết ra được Lễ Ký chính nghĩa để cùng sánh với Chu Lễ chính nghĩaNghi Lễ chính nghĩa. Người có thành tích tương đối cao trong việc nghiên cứu Lễ Ký ở đương đại có Hồng Nghiệp với Lễ Ký dẫn đắc tự. Hồng Nghiệp không tin vào thuyết Đái Thánh soạn 49 thiên Lễ Ký, (ông) cho rằng việc biên soạn thành sách Tiểu Đái Lễ Ký là ở vào sau thời Đái Đức, Đái Thánh và trước thời Trịnh Huyền, thuyết này có sức ảnh hưởng rất mạnh mẽ. Bài viết Luận về bản đầu tiên của Lễ Ký 49 thiên đích thực là do Đái Thánh biên soạn và bác bỏ quan điểm của Hồng Nghiệp cho rằng “Tiểu Đái Lễ Ký không phải là sách của Đái Thánh” của tác giả Dương Thiên Vũ  để tranh luận về quan điểm của Hồng Nghiệp, cho rằng hầu hết các thiên chương của Lễ Ký thực ra là sao chép từ  cổ văn “Kí” 131 thiên. Ngoài ra bài Niên đại hoàn thành và giái trị sử liệu của Lễ Ký của Từ Hi Thần cho rằng trong Lễ Ký tuy rằng không ít là trứ tác của Khổng Môn, nhưng các thiên “Tăng Tử vấn”, “Tạp ký”, “Khúc lễ”… đều là thủ bút của Hán Nho. Lễ Ký được hình thành vào cuối thời Hán, bởi những người thời Đông Hán như Mã Dung, Lư Thực…san định thành 49 thiên Lễ Ký ngày nay.

Các học giả nghiên cứu Lễ Ký khác đa số chỉ dựa vào một thiên nào đó để khảo luận về tư tưởng trên một phương diện nào đó thời cổ đại, như “Học kí” thảo luận về tư  tưởng giáo dục, “Nhạc kí” thảo luận tư tưởng âm nhạc, “Lễ vận” thảo luận về tư tưởng đại đồng, “Trung dung” thảo luận về tư tưởng triết học… trong đó cũng có người tham thảo về niên đại soạn tác của các thiên.

Những nhà nghiên cứu Lễ Ký ở Hồng Công và Đài Loan có tác phẩm Vương chế cập kỳ chú sớ trích mậu của Cao Trọng Hoa, Lễ ký hiệu chứngTrịnh chú dẫn thuật biệt bản Lễ Ký khảo thích của Vương Mộng Âu, Lễ Ký giảng nghĩa của Trình Triệu Hùng, Khổng Tử tam triều ký giải hỗ soạn sớ của Nguyễn Diên Trác, Lễ Ký chính nghĩa dẫn dật thư khảo của Hà Hi Lương…đều thể hiện năng lực nhất định.

Những nghiên cứu liên quan đến dật thư của Lễ Ký , trường đại học Waseda Nhật Bản có giữ tàn bản Lễ Ký tử bản sớ nghĩa, chỉ còn quyển thứ 59, đó là một nửa “Tang phục tiểu ký”. Từ rất sớm đã có bản in hồ, nhưng lưu truyền rất ít. Sau này có thạch bản của La Chấn Ngọc, lưu truyền tuy rộng rãi nhưng chất lượng còn thấp, các học giả đa số dựa vào bản này để tiến hành nghiên cứu. La Chấn Ngọc cho rằng bản này là của Trịnh Ước đời Lương sao chép, Hồ Ngọc Tấn theo thuyết này. Chương thứ 4 “Dật thư nghiệm chứng” trong sách Nam Bắc triều chí sơ Đường nghĩa sớ học nghiên cứu của tiên sinh Kiều Bản Tú Mỹ (Hashimoto Hidemi – Giảng viên đại học Bắc Kinh) khảo đính lại quyển này do Hoàng Khản soạn, Trịnh Ước chẳng qua chỉ tham gia phê ngữ mà thôi.

Trong gần 50 năm, những phát hiện khảo cổ liên quan đến nghiên cứu Lễ Ký cũng không phải không có, quan trọng nhất là năm 1995 khai quật các văn bản thẻ tre của Nho gia trong ngôi mộ nước Sở ở số 1 thôn Quách Điếm huyện Kinh Môn tỉnh Hồ Bắc, tổng cộng hơn 800 thẻ tre. Qua chỉnh lí biên soạn thành 16 thiên, trong đó 14 thiên là các sách của Nho gia, rất nhiều tài liệu liên quan đến nghiên cứu Lễ Ký. Làm cho người ta kinh ngạc nhất là có hoàn chỉnh thiên Lễ Ký – Truy y, ngoài ra, các chữ trong các thiên “Đàn cung”, “Tang phục tứ chế”… của Lễ Ký cũng xuất hiện từng đoạn trên các thẻ tre. Đó  thu hoạch mà các nhà Lễ học sau thời Tây Hán không thể mơ đến. Đáng tiếc là trong các chuyên luận kết hợp những thẻ tre trong mộ nước Sở  ở Quách Điếm để nghiên cứu Lễ Ký , thành tựu mang tính đột biến không nhiều.

III. Tổng hợp nghiêu cứu Tam Lễ

Đại sư kinh học thời Đông Hán Trịnh Huyền là người đầu tiên chú giải cho Tam Lễ. Từ sau khi Trịnh Huyền chú giải thì các chú giải của các tác giả khác đều bị bỏ. Từ trăm đời nay, luôn có quan điểm là “Lễ học tức Trịnh học” (lễ học tức là cái học của họ Trịnh), Trịnh chú trở thành ông tổ của Lễ học. Trịnh học uyên bác tổng hợp, tự trở thành một thể. Nếu không thông Trịnh  học thì Lễ học cũng không thể thông tỏ, người có thành tựu nghiên cứu cao nhất về Trịnh huyền thời kỳ đương đại là Trương Thuấn Huy tiên sinh. Khi còn trẻ ông vẫn luôn suy tôn cái học của Trịnh Huyền, đặc biệt chuyên tâm về  Tam lễ chú, Mao Thi Tiên của họ Trịnh! Khi về già ông đã lấy những bản thảo cũ làm làm cơ sở để tổng kết thành tựu Trịnh học, soạn ra một số thiên như: “Trịnh học tự lục”, “Trịnh thị hiệu thù học phát vi”, “Trịnh học kinh chú thích liệt”, “Trịnh học truyền thuật khảo”, “Trịnh nhã”…, tập hợp thành cuốn Trịnh học tùng trứ, cống hiến cho giới học thuật. Năm 2007 Dương Thiên Vũ cho ra đời cuốn sách Trịnh Huyền Tam Lễ chú, là tập hợp những tâm đắc của tác giả trong nhiều năm nghiên cứu Trịnh Huyền .

Những tác phẩm tổng hợp Tam Lễ nghiên cứu xã hội thời Chu, thì có sách Tông Chu xã hội dữ lễ nhạc văn minh của Dương Hướng Khuê, và sách Tông Chu Lễ nhạc văn minh khảo luận của Thẩm Văn Trác, hai cuốn sách này đều là thủ bút của hai đại gia, chất lượng rất tốt. Hệ thống nghiên cứu về lễ chế Trung Quốc cổ đại có quyển Trung Quốc chế lễ sử, tài liệu lịch sử phong phú, nội dung sát thực, trở thành một hệ thống cụ thể.

Sách công cụ để nghiên cứu Lễ học phải kể đến cuốn Tam Lễ từ điển của Tiền Huyền và Tiền Hưng Kỳ, sách này đã lấy hơn 50 nghìn điều từ Tam lễ  và Đại Đái Lễ Ký phân làm 32 loại như: Lễ thư; Chức quan; Chính giáo; Cương vực; Tài dụng; thông Lễ; Tế Tự; Tang phục; Tông pháp; Xưng vị; Hình pháp; Điền liệt, dưới mỗi điều thì trích dẫn nguyên văn, rồi đến chú thích, khảo chứng có khi phụ thêm đồ họa. Ngoài ra Tiền Huyền Lanh có Tam Lễ thông, lời nói đầu của cuốn sách luận thuật về tính chất và phương pháp nghiên cứu của Tam Lễ. Chính văn phân làm bốn thiên là: lễ thư, danh vật, chế độ, lễ nghĩa, dưới mỗi thiên lại làm thành các chuyên đề, nội dung rộng lớn tận tường, khảo nghiệm và chứng minh một cách sắc nét.

Về việc nghiên cứu Lễ học truyền thống, trước mắt đang có xu thế là khôi phục lại, những luận bàn sáng tác của các học giả trẻ tuổi ngày càng tăng lên, lĩnh vực tiếp cận cũng không ngừng được mở rộng. Ví dụ, cuốn sách Ngũ Lễ thông khảo của Tần Huệ Điền, trước đây mọi người cho nó là một con đường khó không dám đi vào, là một đầu sách lớn nhất trong các trứ tác nghiên cứu kinh điển, luôn có ít người nghiên cứu. Gần đây, trong hội thảo nghiên cứu học thuật quốc tế kinh học Trung Quốc lần thứ hai tại trường Đại học Bắc Kinh, lại có những luận văn nghiên cứu riêng về sách này, làm cho mọi  người hết sức vui mừng.

IV. Những vấn đề tồn tại trước mắt trong việc nghiên cứu Lễ học

Ba mươi năm gần đây, số lượng luận văn học vị, luận văn, chuyên đề, của việc nghiên cứu Tam Lễ không ngừng phát triển. Nhưng bình tâm nhìn lại, thì trình độ tổng thể của nó còn chưa khôi phục được đến trình độ của trước thời văn cách. Điều này đã có nguyên nhân lịch sử cũng như nguyên nhân hiện thực, dưới đây xin phân tích sơ lược.

Đầu tiên, là Kinh học không được chấn hưng, Tam Lễ học là Kinh học. Học thuật vốn có của Trung Quốc có đại cương là Kinh, Sử, Tử, Tập, Kinh ở vị trí đầu tiên. Giáo sư Diệp Quốc Lương viện trưởng viện văn học Đại học Đài Loan nói rằng: Kinh học là đầu tầu của học thuật truyền thống Trung Quốc, điều đó rất đúng. Ở Trung Quốc thời cổ, Kinh học là tư tưởng chỉ đạo, nó là cái đạo chủ yếu để mà kinh quốc trị dân. Có một số văn hiến, ví dụ như Kinh Thi, được xem như các tác phẩm văn học, nhưng các bậc hiền triết thời cổ lại coi nó như công cụ của giáo hóa, họ đã thông qua các phương thức giải thích, tiên trú… để phô bày cho nó cái nội hàm nhân văn phong phú trong nó. Nghiên cứu Kinh Thi như  ca dao cổ đại thuần túy, tưởng là khôi phục chân bản của nó, nhưng lại đã tách rời tinh thần của nó. Chu Dịch nguyên bản là sách dùng để bói, nhưng người đời sau đã cho nó một cách giải thích hoàn toàn mới, nếu như chỉ coi sách này là để bói, thì đã phá hoại bộ kinh điển này. Tam Lễ cũng nên được coi như vậy. Có thể  nói rằng: không nghiên cứu Kinh học thì không nắm trọn được linh hồn của văn hóa học thuật Trung Quốc. Nhưng trăm năm gần đây, việc thiết lập khoa học của các trường Đại học nước ta hoàn toàn phỏng theo mô thức phương Tây, giống như gọt chân để đi giầy cho vừa vặn , để giải thích hệ thống khoa học nhân văn có chiều dài ngàn năm ở nước ta, lấy kết cấu và cách thức của 3 hệ Văn – Sử – Triết, Kinh học tức thì không có chỗ yên ổn. Như phương pháp phân loại sách vở ngày nay sẽ những văn hiến kinh học có nội dung Tam Lễ được qui về môn loại Triết Học, thật là nực cười. Chu Lễ là sách giảng giải về quan chế, Nghi Lễ ghi lại các loại nghi thức của thời thượng cổ, làm sao lại là tác phẩm triết học? Loại văn hiến này có ít người hỏi đến, cũng không đáng lạ.

Thứ hai, là sự thiếu hụt về nhân tài Kinh học. Đầu thế kỷ 20, sau Kinh học bị phế bỏ, trong trạng thái tự sinh tự diệt. Nhưng trong 50 năm đầu thế kỉ, dư âm của Kinh học vẫn còn, học giới vẫn còn những học giả có tri thức và hiểu biết về Kinh học, họ không muốn vứt bỏ đối với việc truy cầu Kinh học. Điển hình nhất trong giới học giả như tiên sinh Thẩm Văn Trác, học thuật của ông uyên thâm, cần mẫn không biết mệt mỏi, đam mê cả đời, không làm vì danh lợi và thời thượng chi phối. Tiên sinh Dương Hướng Khuê lúc sống đã dùng 8 chữ “ phương Nam kinh sư, thạc quả cẩn tồn” để đánh giá về Thẩm tiên sinh. Đoạn Hy Trọng cũng rất giỏi về Nghi Lễ, có bản kiểm tra, đính chính của Chính Nghĩa Nghi Lễ được lưu hành. Đoạn Hy Trọng lại có một cuốn Luận thập Kinh Lễ, là tác phẩm tâm đắc trong nhiều năm nghiên cứu Nghi Lễ, nổi bật trong cuốn sách là: đề mục theo các nhà đời Hán, thiên đệ theo Đại Đái, văn tự thì theo lối kim văn, niên đại hoàn thành cuốn sách (Nghi Lễ) vào thời Đông Chu do Khổng Tử san định, giảng giải Kinh thường tuân theo gia pháp mà không chọn cổ học, thuật theo sự ghi chép của nhiều tuyển chọn khác, chỉnh lí kinh quý ở làm sáng tỏ chương cú, giải thích Lễ phù hợp như Dịch có đồ họa, giải thích Lễ phù hợp như Xuân Thu theo lệ, học thuật Kinh Lễ và Xuân Thu cùng một nguồn. có thể nhìn thấy đều là con đương dùng dùng phương pháp kinh học để nghiên cứu Kinh Lễ là tác phẩm chính tông của nghiên cứu lễ học .Chính là do sự bảo lưu kiên định của họ, mà Lễ Học Trung Quốc thế kỉ 20 mới để lại ánh sáng huy hoàng. Mà sau họ, bất kể là về số người hay về cả trình độ học thuật, đều có khoảng cách rất lớn.

Nguyên nhân căn bản của sự suy yếu Kinh Học, còn là do sự bất hợp lí trong thể chế của chương trình trong trường học. 50 năm gần đây, ở đại lục dường như không có một trường đại học nào có chương trình kinh học. Nghiên cứu kinh học cần có sự rèn luyện Tiểu học (tức là cái học văn học, âm vận, huấn hỗ)  và văn hiến học, nếu không thì không làm được. Như việc học cao học ngày nay, Văn – Sử – Triết đều trở thành những lĩnh vực riêng,  hai khoa Triết học và Lịch sử không mở chương trình đào tạo này, khoa văn học tuy có, nhưng lại không có chương trình Kinh học. vì  rèn luyện nghiên cứu Kinh Học bị thiếu hụt phổ biến, học sinh đa phần ngay cả chú sớ đều đọc không hiểu, thậm chí xem các sách phồn thể là đau óc quay cuồng.

Thứ ba, người nghiên cứu không đọc nguyên điển. Thi, Thư, Lễ, Dịch .. đều thuộc kinh điển của Nho gia, nhưng tính chất thì không giống nhau, phương pháp nghiên cứu cũng có đặc thù. Nhận thức của các học giả thời cổ về Tam Lễ, đa phần lấy “danh vật độ số chi học” để khái quát, câu đó tuy không thể nói hết, nhưng lại nói được một mặt nổi bật nhất của Tam Lễ. Việc hành Lễ cần phải có cung thất, khí mãnh, sinh ngưu, mạo phục, nhạc cụ, cờ tinh, tịch vị… từng việc đều phải có những quy chế nghiêm ngặt. Do niên đại đã xa, không ít hình chế của khí vật đã thất truyền, khảo cứu không có căn cứ Sự sắp đặt về đông tự, tây tự, đông đường, tây đường….rốt cuộc phân bố sắp đặt như thế nào? Quan mạo phục sức, là danh mục đa dạng, hình luật phức tạp, những miêu tả trong sách vở cũng rất mờ mịt, rất khó để mà đọc hết.

Những vấn đề tương tự như thế nếu như không thể hiểu rõ, thì việc chỉnh lý Nghi Lễ như mây quấn núi, sao luận bàn về Lễ Nghĩa? Vì thế các học giả đời cổ đều cho rằng “Lễ là thực học”. “Thực học” đó đều không phải là “thực học” trong “trào lưu tư tưởng thực học” của thời đại Minh Thanh, mà là không thể dựa vào những lời hư ngôn để mà luận bàn nó. Do đó, bước thứ nhất của việc nghiên cứu Lễ học, là quan trọng ở việc đọc nguyên điển Tam Lễ, nghiên cứu chữ , làm sáng rõ nó giảng giải về cái gì? Sách Kinh Lễ khó đọc, từ xưa đến nay đều vậy. Nhưng mà, các học giả nghiên cứu Tam Lễ ngày nay, nhiều người nôn nóng trong cái lợi trước mắt, mà chưa từng đọc qua một bộ nguyên điển nào, hoặc là không có dự tính đọc, một số người trong đó đã viết các tác phẩm chuyên về Lễ học, hoặc có người đã nhận được bằng tiến sĩ luận văn lễ học. Chỉ như thế, trong các tác phẩm của họ khó tránh khỏi việc xuất hiện những lối sai của những tri thức thông thường. Ví dụ như, trong sách nào đó thảo luận  về nguồn gốc của trang phục, dẫn dụng câu trong Kinh Thi “tự đông, tự tây, tự nam, tự bắc,vô tư bất phục”, nói rằng chữ “phục” ở đây để chỉ tang phục, thì liền suy đoán tang phục có từ thời Chu. Mà không biết rằng, đó là bài thơ ca ngợi Văn Công, ý bài thơ là, người bốn phương từ đông tây nam bắc, không người nào là không quy phục Văn Vương. Chữ “phục” trong bài thơ không hề có liên quan gì đến tang phục. Cũng có luận văn lẫn lộn về việc thiên tử tế trời và tế cầu mưa là một, mà không biết rằng Nam Giao tế trời là lễ tế cấp bậc cao nhất trong tế tự, chỉ có thiên tử mới có tư cách để tế lễ đó, ngày tế tự là ngày đông chí, địa điểm là ở Nam Giao, còn tế cầu mưa còn gọi là “vu”, một năm có thể tế nhiều lần, người chủ tế cũng có thể là thiên tử, cũng có thể là vua chư hầu, thậm chí là quan địa phương. Do không đọc nguyên điển đến nỗi xuất hiện sai lầm đó. Thiên “Đàn Cung” của Lễ Ký đề cập, Tăng Tử lúc sắp chết, cảm thấy “trách” (tẩm tịch) quá hoa mĩ, sai với lễ chế,  do đó ông lệnh cho con của mình là Tăng Nguyên đỡ dậy để đổi “trách” cũng là đổi chiếu nằm, mà sau này  thành điển cố “dịch trách”. Nhưng lại có học giả đem ngắt hai chữ đó thành “dịch” và “trách”, “dịch” là tên cuốn sách, không biết “Dịch trách” cần giải thích như thế nào?

Thứ tư, luận văn không có tính vấn đề. Việc viết luận văn, là lấy giải quyết một vấn đề học thuật nào đó làm tiền đề cơ bản. Do đó, luận văn có hay không ý thứ vấn đề, luận đề có hay không giá trị học thuật, là những yếu tố cơ bản để đánh giá luận văn. Mà vấn đề nổi bật nhất trong việc nghiên cứu Lễ học ngày nay, hoàn toàn khuyết thiếu ý thức vấn đề, không ít luận văn nói vòng vo, mà nói trực tiếp tới các vấn đề trung tâm của Lễ học. nguyên nhân cơ bản dẫn đến xuất hiện hiện tượng này, là sự lạ lẫm đối với lịch sử Lễ học, ví dụ như các học giả Hán Đường trong việc nghiên cứu Tam Lễ tồn tại những cái tranh luận trọng yếu? Điểm mấu chốt của phân kì là như thế nào? Thời Thanh là đỉnh cao của việc nghiên cứu Lễ học, các học giả của thời kỳ này đã giải quyết được những cái vấn đề học thuật nào? thông qua con đường nào? Cách giải quyết như thế nào? Vì những vấn đề này không rõ ràng, cho nên đối mặt với Kinh Lễ không biết tác giả muốn nói gì, cũng không thể phán đoán  tính đúng sai trong những cái nói không giống nhau. Có người mưu lợi, tập hợp gom góp lại các bài tựa của của các tác phẩm Lễ học ở một triều đại nào đó, miễn cưỡng thành văn, nói sách là “phát tiền nhân sở vị phát” (nói lên những ý người xưa chưa nói ra),“siêu ngộ tiền hiền” (gặp gỡ tiền nhân). Kỳ thực các bìa tựa của người xưa thường thường giống với các bài tựa của người nay, rất nhiều ngôn từ hoa mĩ, không chân thực. Những bài tựa đó đều không thể không dẫn dụng, vấn đề là nhất định phải kết hợp với vấn đề mà tác giả nghiên cứu, không thì chỉ là những ngôn từ phù phiếm, không có ích lợi gì cho học thuật.

Thứ năm, xem thường nghiên cứu cơ sở. Lễ học là cái học về khuôn phép của lễ và ý nghĩa của lễ, trước là về nghi thức, khí vật,  phục sức của lễ, sau là “bản nghĩa trong chế tác của thánh nhân”,  chính là nghiên cứu tư tưởng lễ học như các nói của người đời nay. Có người cho rằng việc tìm hiểu nghĩa lí của lễ là nghiên cứu tầng cao, còn việc tìm hiểu danh vật, độ số cho rằng đó là công việc tầng thấp, liền chỉ ở nghiên cứu tầng cao, công khai coi thường nghiên cứu tầng thấp, loại nhận thức nông cạn như vậy, ảnh hưởng lớn đến trình độ nghiên cứu lễ học thời nay. Tầng cao, tầng thấp, chỉ có thể là cách nói thứ tự trước sau của nghiên cứu, bản thân nói không có sự phân biệt cao thấp, tinh thô. Nghiên cứu hai tầng thứ đó, giống như những bậc trước sau trong cầu thang, nếu không đi qua các bậc thấp thì có thể đi đến bậc cao được không? Nếu như chỉ có tầng cao mà không có bậc thấp thì bậc trên cao có thể treo lơ lửng trên không được không? Cao thấp trong trình độ học thuật, hoàn toàn không phải ở việc nghiên cứu tầng thứ nào, làm nghiên cứu cơ sở thì vẫn có được thành tựu kiệt xuất, làm nghiên cứu tư tưởng cũng không nhất định là học giả ưu tú.

Thứ sáu, làm so sánh nông cạn. trước đây, có một số học giả Nhật Bản nghiên cứu Lễ học Trung Quốc, so sánh đơn giản giữa các tài liệu dân tộc học của Đông Nam Á, hoặc  Châu Mĩ, châu Phi với Nghi Lễ Vì lịch sử và văn hóa giữa các dân tộc có sự khác biệt rất lớn,  nghiên cứu như thế xem ra thì rất bác học, cũng rất sôi nổi, trên thực tế là so sánh bên ngoài, chỗ nào cũng khác nhau. Khung hưởng không tốt như thế, cho đến nay vẫn có một số học giả trẻ tuổi duy trì. Cái nguy hại của nó, tiên sinh Dương Khoan đã sớm chỉ ra trong cuốn sách Cổ sử tân khảo.

Thứ bảy, vấn đề môi trường học thuật: Các trường cao đẳng đại học và cơ cấu nghiên cứu khoa học ngày nay, thực hành phổ biến cái gọi là chế độ khảo hạch công trạng, chỉ tiêu chủ yếu là số lượng luận văn, mà không phải là chất lượng, hoặc là dùng đẳng cấp của tạp chí để thay cho chất lượng của luận văn. Số lượng luận văn quan hệ đến tên tuổi của trường học, cho nên được xem là việc quan trọng hàng đầu. Luận văn phát biểu không đạt đến số lượng quy định, thì không được thăng chức, học vị cũng không được trao tặng, thế là mọi người trăm phương ngàn kế phát biểu luận văn. Vì yêu cầu về số lượng và thời gian, nên một số luận đề đầu tư nhiều, hoàn thành chậm thì tất nhiên cũng rất ít người làm, lỡ có làm rồi, cũng là cũng chỉ làm qua loa cẩu thả. Lộ ra một số mặt như một số sách báo học thuật công khai tính buôn bán trang báo, cá biệt biên tập làm giao dịch qua lại, phá hoại nghiêm trọng môi trường học thuật. Gần đây, giáo sư Lí Bá Trọng phát biểu luận đàm, phê bình báo của một số trường đại học cao đẳng trở thành “công trường chế tạo rác rưởi học thuật”, dẫn ra sự phản đối quyết liệt của giới học thuật. Cho dù không phải tất cả các sách báo đều như vậy, nhưng hiện tượng này thực sự vẫn tồn tại. Gần đây chúng tôi thấy, một số tờ báo đăng một luận văn liên quan đến học Lễ học, đến cả kiến thức cơ bản cũng không có, có thể thấy tác giả cơ bản không đọc hiểu nguyên điển. Rất rõ ràng, nó sở dĩ được đăng là vì ngay cả biên tập cũng không hiểu, hoặc là có một lí do khác. Biên tập đăng lên một thứ văn chương vàng thau lẫn lộn, không chỉ là đã phá hoại danh tiếng của tờ báo học thuật, mà còn nhất định sẽ tạo thành những con đường sai trái cho độc giả. Trước mắt không ít nghiên cứu sinh vì không hiểu nguyên điển, luận văn phần nhiều là tải từ trên mạng, cắt dán mà thành, bất kể là đúng sai, tốt xấu, thu vén tất cả, trở thành một căn cứ học thuật mới. Cá biệt biên tập còn giương cao cờ hiệu tranh luận học thuật, cổ vũ việc phát biểu luận văn. Tranh luận học thuật cần phải có tầng thứ, cần phải thúc đẩy bước tiến học thuật, mà không phải là khuấy nước lấy sóng. Vì thế, giới học thuật làm thế nào để bỏ đi đồ giả, đồ kém, bảo đảm trình độ của các tờ báo học thuật, trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Ở đây chỉ rât một số điểm cần thiết là, trước mắt trên không ít trang bìa một số tờ báo đều viết nhãn mác rõ ràng là “ủy viên hội học thuật” nhưng đối một số tờ báo này mà nói, nói chẳng qua chỉ là trang trí bên ngoài, căn bản không có tác dụng gì, không thì cũng không thể giải thích được vì sao một thứ học thuật rác rưởi như thế lại vẫn được đăng tải.

Tổng kết những điều đã luận thuật ở trên, trước mắt nghiên cứu lễ học còn tồn tại rất nhiều vấn đề, vừa có nguyên nhân khách quan, vừa có nguyên nhân chủ quan, có nhân tố chế độ cũng có nhân tố tự thân. Tình hình không thể lạc quan ,yêu cầu phải có sự nỗ lực của mọi người, cũng cần phải có một thời gian dài mới có thi vọng giải quyết.

—————————————————————————-

注意: 这只是我大学三年期礼经门课的中期考试,所以我翻译时有点改变,我也省略几句话。


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: