2012 in review
The WordPress.com stats helper monkeys prepared a 2012 annual report for this blog.
Here’s an excerpt:
600 people reached the top of Mt. Everest in 2012. This blog got about 2 600 views in 2012. If every person who reached the top of Mt. Everest viewed this blog, it would have taken 4 years to get that many views.
Giới thiệu văn bản “Canh Đình khóa tập sách văn”
Đọc theo đường link này: Canh Đình khóa tập sách văn
Vận đồ (in trongDương Kiếm Kiều, Hán ngữ âm vận học giảng nghĩa, Phúc Đán ĐH XBX, 2005
Vận đồ còn gọi là “Đẳng vận đồ”, “Đẳng vận biểu”, là một loại biểu đồ ghép âm mà kết hợp cả thanh, vận, điệu với nhau. Chúng ta miêu tả một hệ thống ngữ âm, có thể dùng phương pháp văn tự để diễn giải, nói rõ hệ thống ngữ âm này có bao nhiêu thanh mẫu, bao nhiêu vận mẫu, bao nhiêu thanh điệu, quan hệ phối hợp giữa chúng như thế nào… Nhưng đối với những người bình thường không có kiến thức về ngôn ngữ học mà nói, phương pháp dùng văn tự để diễn giải thì hoàn toàn không thích hợp, trái lại, biểu đồ phối hợp của thanh vận điệu sẽ mang lại hiệu quả nhìn qua là hiểu, ghi nhớ lại thuận tiện. Đặc biệt là Vận thư thời Ngụy Tấn trở đi, đại đa số đều là lấy thanh điệu làm hàng ngang, lấy vận bộ làm hàng dọc, tình hình thanh mẫu và vận mẫu hoàn toàn không thể biểu thị rõ ràng, quan hệ phối hợp của thanh vận điệu cũng không thể thể hiện ra. Các nhà Đẳng vận học cuối Đường đầu Tống được gợi mở của bản chữ Phạn Tất huyện chương đã nhận ra khuyết điểm này của vận thư, từ đó sáng tạo ra Đẳng vận đồ.
Phương pháp sắp xếp mỗi đồ của Vận đồ thông thường có hai loại:
Loại thứ nhất lấy Vận kính làm ví dụ, đầu tiên, đồ biểu lấy những cột lớn để chú thanh mẫu, thanh mẫu dựa vào bộ vị phát âm phân thành 7 cột dọc thần âm (âm môi), thiệt âm (âm lưỡi), nha âm (âm răng hàm), xỉ âm (âm răng cửa), hầu âm (âm họng) và thiệt xỉ âm (âm răng lưỡi), trong 7 cột dọc đó lại dưa theo phương pháp phát âm của thanh mẫu để phân thành thanh, thứ thanh, trọc, thứ trọc (tức là toàn thanh, thứ thanh, toàn trọc, thứ trọc), lần lượt xếp vào Tam thập lục tự mẫu (36 tự mẫu): bang, bàng, tịnh, minh (phi, phu, phụng, vi), đoan thấu định nên (trị triệt trừng nương), kiến khê quần nghi, tinh thanh tùng tâm tà (chiếu xuyên sàng thẩm thiền), ảnh hiểu hạp, dụ lai nhật. Đáng được chú ý là, trong hàng ngang của tam thập lục tự mẫu chỉ sắp xếp thành 23 hàng dọc, trong đó bang, bàng, tịnh, minh cùng với phi, phu, phụng, vi hợp trong cùng một cột; đoan, thấu, định, nê cùng với tri, triệt, trừng, nương hợp trong cùng một cột; tinh, thanh, tùng, tâm, tà cùng với chiếu, xuyên, sang, thẩm, thiền hợp trong cùng một cột; đó chính là ý mà Trương Lân Chi trong Vận kính tự tác gọi là “Nhật thể dĩ nhất chỉ liệt nhị thập tam tự mẫu vi hàng, dĩ tung hàng thiên thượng, kì hạ gian phụ nhất thập tam tự mẫu, tận vu tam thập lục, nhất mục vô di” (theo cách xưa lấy một tờ giấy xếp 23 tự mẫu thành một hàng, dựa theo cột ở trên, ở phía dưới phụ thêm 13 tự mẫu, tất cả 36, không bỏ xót một mục nào). Tiếp theo, biểu đồ ở dưới thanh mẫu, lấy bình thượng khứ nhập phân thành 4 hàng ngang lớn, mỗi hàng lại lấy tứ đẳng phân thành 4 hàng dọc, lần lượt thay thế cho nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng, tứ đẳng. Như chuyển thứ 23 của Vận kính các chữ “đan, than, đàn, nan, can, khan, san, an, hàn, lan” ở trong hàng ngang nhất đẳng bình thanh (đẳng thứ nhất của bình thanh), các chữ “biện, miễu, triển, sấn, kiển, kiện, xiển, thiện, liễn” ở trong hàng ngang tam đẳng thượng thanh (đẳng thứ ba của thượng thành), các chữ “gián, nhạn, sản, sán, án” ở trong hàng ngang nhị đẳng thượng thanh (đẳng thứ hai của thượng thanh), các chữ “miết, mậu, thất, thiết, niết, kết, tiết, thiết, ế” ở trong hàng ngang nhập thanh tứ đẳng (đắng thứ tư của nhập thanh).
Thứ nữa, cột ngoài cùng bên phải đồ biểu là để đánh dấu nội ngoại chuyển (nội chuyển và ngoại chuyển), thứ tự của đồ và khai hợp khẩu (khai khẩu và hợp khẩu). “Nội chuyển” là chỉ nhiếp không có Độc lập nhị đẳng vận, như tám nhiếp: thông, chỉ, ngụ, quả, đãng, tăng, lưu, thâm; “Ngoại chuyển” là chỉ nhiếp có Độc lập nhị đẳng vận, như tám nhiếp: giang, giải, trăn, sơn, hiệu, giả, ngạnh, hàm.[1] Trong hàng ngang đó, có khi còn phụ thêm tự dạng “khứ thanh kí thử” (khứ thanh gửi ở đây), biểu thị ngoài những chữ được liệt kê thì hoàn toàn không phải là nhập thanh, mà là khứ thanh. Như chuyển thứ 9 của Vận kính chữ của vận phế đặt vào hàng ngang nhập thanh.
Tiếp theo, cột ngoài cùng bên trái đánh dấu vận mục của 206 vận trong Quảng Vận, mỗi vận mục dựa vào thanh điệu và đẳng của vận mà nó thay thế, xếp vào ô hàng ngang của thanh điệu này và bên cạnh hàng ngang của đẳng này. Như chuyển thứ 23 của Vận kính, “hàn” xếp vào bên cạnh hàng ngang của các chữ đẳng thứ nhất của bình thanh “đan, than, đàn, nan, can, khan, san, an, hàn, lan”, biểu thị các chữ này là chữ vận hàn; “tiển” xếp vào bên cạnh hàng ngang của các chữ đẳng thứ nhất của thượng thanh “biện, miễn, triển, sấn, kiển, kiện, xiển, thiện, liễn”, biểu thị các chữ này là chữ vận tiển; “gián” được xếp vào bên cạnh hàng ngang của các chữ đẳng thứ hai của khứ thanh: “gián, nhạn, sản, san, yến”, biểu thị các chữ này là chữ vận gián; “Tiêu” được xếp vào bên cạnh hàng ngang các chữ đẳng thứ tư của nhập thanh như “miết, mậu, thất, thiết, niết, kết, tiết, thiết, ế”, biểu thị các chữ này là chữ vận Tiêu. Có khi trong một vận bộ của Quảng Vận kiêm cả nhất đẳng và nhị đẳng (hoặc nhị đẳng và tam đẳng), trong vận đồ cũng chỉ xếp vào một vận mục đồng thời thể hiện nhị đẳng và tam đẳng (hoặc là nhị đẳng và tam đẳng). Như chuyển thứ nhất của Vận kính chỉ xếp “đông”, đồng thời thể hiện các chữ thuộc đẳng thứ nhất của vận Đông“bồng, đông, công ,tùng, ông, lung” và các chữ đẳng thứ ba của vận Đông “phong, trung, cung, đông, hùng, long”.
Cuối cùng, đồ biểu lấy thanh mẫu làm đường dọc, lấy vận mẫu làm đường ngang, tại nơi đường nganh và đường dọc cắt nhau danh sách các chữ đại diện cho tiểu vận trong Quảng vận (có khi là Tập vận).
Loại thứ hai lấy Tứ thanh đẳng tử làm ví dụ, hàng đầu tiên của nó là danh sách tam thập lục tự mẫu chia thành các cột dọc, sau đó dựa theo tứ đẳng phân thành bốn hàng ngang lớn, sau đó ở trong mỗi ô hàng ngang của một đẳng, lại phân thành 4 hàng bình, thường, khứ, nhập; đồng thời bên cạnh mỗi hàng ngang đánh dấu vận mục của Quảng Vận, cuối cùng cũng là lấy thanh mẫu làm hàng dọc, vận mẫu làm hàng ngang, tại điểm mà đường dọc đường ngang giao nhau là danh sách các chữ đại diện của tiểu vận.
Hết sức rõ ràng, phương thức sắp xếp này của vận đồ có thể liệt kê tất cả các âm tiết của một hệ thống ngữ âm, quan hệ phối hợp giữa thanh, vận , điệu cũng hiện ra một cách rõ ràng. Đây chính là điểm mà Vận thư và Phiên thiết không thể sánh được với Đẳng vận đồ.
Đẳng vận đồ trong lịch sử có thể phân thành hai phái lớn là phái Tống, Nguyên và phái Minh, Thanh, Đẳng vận đồ thời kì đầu và thời kì giữa thuộc về phái Tống Nguyên, hệ thống ngữ âm mà nó thể hiện phù hợp với hệ thống ngữ âm của Quảng vận và Bình thủy vận; Đẳng vận đồ thời kì cuối thuộc về phái Minh, Thanh, hệ thống ngôn ngữ mà nó thể hiện thì phù hợp với hệ thống ngôn ngữ của các vận thư theo âm miền bắc như Trung nguyên âm vận. Đẳng vận thư thời kì đầu còn truyền lại có Vận kính và Thất âm lược, chúng đều xếp thành 43 đồ, khai khẩu hô và hợp khẩu hô không cùng một đồ, mỗi đồ chia đều cho 4 đẳng, cùng một vận mà có khai hẩu hô và hợp khẩu hô thì làm thành hai hô tám đẳng, tập hợp 206 vận, hợp với Quảng vận, mà chữ đại diện của tiểu vận trong Quảng vận trên vận đồ cũng ở những vị trí khác nhau. Cho nên những vận đồ này có thể làm chứng cứ của hệ thống ngữ âm của các sách vận thư như Quảng Vận. Đẳng vận đồ thời kỳ giữa có Tứ thanh đẳng tử, Thiết vận chỉ chưởng đồ, Kinh sử chính âm thiết vận chỉ nam… chúng dựa theo sự biến hóa của thực tế ngữ âm, đem 43 chuyển của Vận kính và Thất âm lược hợp thành 16 nhiếp, cho nên phân thành rất ít đồ. Như Tứ thanh đẳng tử làm 20 đồ, khai hợp vẫn không cùng một đồ, mỗi đồ lại có 4 đẳng, cùng một vận mà có hợp khẩu hô và khai khẩu hô vẫn là hai hô 8 đẳng, thế nhưng nó tuy rằng thu thập 206 vận nhưng luôn luôn có vận hợp trong cùng một hàng, cho nên có thể dùng để khảo cứng cho sự chuyển biến từ âm trung cổ sang âm cận đại. Đẳng vận đồ của thời kì cuối có thể lấy đại biểu là Tự mẫu thiết vận yếu pháp trong quyển thứ nhất Khang Hi tự điển, đồ này tiến thêm một bước 16 nhiếp làm thành 20 nhiếp, khai khẩu và hợp khẩu cùng một đồ, đồng thời hai hô tám đẳng phân thành bốn hô khai, tề, hợp, nhiếp, cho nên có thể là căn cứ nghiên cứu cho âm cận đại.
Đương nhiên, vì cổ đại không có tri thức của âm vị học hiên đại, lại vì giới hạn của một bức đồ, làm ra các đồ vận còn tồn tại rất nhiều thiếu sót và sai lầm, đó chính là điểm cần chú ý. Ví dụ trong Đẳng vận học có cách nói là “giả nhị đẳng”, “giả tứ đẳng”, “giả nhị đẳng” chính là chỉ một số chữ nào đó ở Trang tổ của đẳng thứ ba của một vận nào đó, căn cứ vận mẫu của chúng vốn nên đặc trong các ô thuộc đẳng thứ ba của vận đồ, nhưng vì Đẳng vận học quy định các ô của đẳng thứ ba bị các chữ của thanh mẫu Chương tổ chiếm dụng, vì thế các chữ thanh mẫu Trang tổ cũng bị xếp vào các ô của đẳng thứ hai, đó là những chữ thanh mẫu Trang tổ thực ra không phải là những chữ thuộc đẳng thứ hai, cho nên gọi là “Giả nhị đẳng”. Chữ “sùng” trong “nội chuyển đệ nhất khai” (khai thứ nhất trong nội chuyển) và bốn chữ “thư, sơ, tư, sơ” trong “nội chuyển để thập nhất khai” (khai thứ 11 trong nội chuyển) của Vận kính “Giả nhị đẳng tự”. “Giả tứ đẳng” chính là để chỉ chữ thanh mẫu Tinh tổ của tam đẳng vận đồ và so sánh với tự mẫu tứ thanh, căn cứ vào vận mẫu của nó thì vốn nên xếp vào trong các ô thuộc đẳng thứ ba của vận đồ, nhưng vì đẳng vận học quy định các ô của tam đẳng do các chữ thanh mẫu tổ chương chiếm dụng, vì thế những chữ thanh mẫu tổ tinh và tứ thanh tự mẫu được xếp vào các ô của tứ đẳng, những chữ thanh mẫu tổ tinh và dụ tứ thanh tự mẫu thực ra không phải là các chữ của tứ đẳng vì thế gọi là “giả tứ đẳng”. Chữ “sùng” trong “nội chuyển đệ nhất khai” (khai thứ nhất trong nội chuyển) và bốn chữ “thư, sơ, tư, sơ” trong “nội chuyển để thập nhất khai” (khai thứ 11 trong nội chuyển) của Vận kính đều là “Giả nhị đẳng tự”.
[1] Cái gọi là “Độc lập nhị đẳng vận” (vận bộ độc lập thuộc nhị đẳng) là các vận bộ mà tất cả tiểu vận đều chỉ sắp xếp trong ô nhị đẳng của vận đồ, từ góc độ vận đồ nói ngược lại là, chỉ các vận bộ trong các ô vuông nhị đẳng của ngũ âm thần, thiệt, xỉ, nha, hầu đều có chữ. Độc lập nhị đẳng vận của Quảng Vận có 12 vận bộ: giang, giai, giai, ương, san, san, hào, ma nhị, canh nhị, canh, hàm, nhai. Trong nhiếp Trăn không có Độc lập nhị đẳng vận, nhưng vận Trăn trong nhiếp trăn trên vận đồ chỉ chiếm dụng một ô của nhị đẳng, người xưa cho rằng phù hợp với định nghĩa Độc lập nhị đẳng vận, vì thế xếp nhiếp trăn nhập vào “ngoại chuyển”.
TÌNH HÌNH CHUNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA NGHIÊN CỨU TAM LỄ” (Dịch)
Nội dung đề yếu : Chu Lễ, Nghi Lễ , Lễ Ký hay thường gọi là Tam lễ, là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa học thuật truyền thống. Học thuật Càn Gia hưng khởi, học thuật Tam Lễ rất thịnh vượng, những tác phẩm nổi tiếng như Lễ kinh thích lệ của Lăng Đình Kham, Ngũ lễ thông khảo của Tần Huệ Điền, Nghi Lễ chính nghĩa của Hồ Bồi Huy, Lễ thư thông cố của Hoàng Dĩ Chu, Chu Lễ chính nghĩa của Tôn Di Nhượng… Cuối thời cận đại đến nay, Lễ học suy vi nhưng vẫn không bị gián đoạn. Thời gian gần đây, tuy thấy dấu hiệu sống lại, nhưng còn rất nhiều vấn đề. Mục đích chính của bài nghiên cứu này không phải để điểm nhặt những trức tác luận bàn Lễ học hiện nay, mà thử vẽ lên khái quát những xu thế học thuật, chỉ ra những vấn đề để giới học thuật suy ngẫm và khảo xét.
Từ khóa : Tam Lễ, Kinh học, Môi trường học thuật, Nhân tài Lễ học
******
I. Chỉnh lí kinh điển Lễ học thời kì cận hiện đại
Việc nghiên cứu Lễ học trong 30 năm trở lại đây, đã khởi bước từ việc chỉnh lí kinh điển Lễ học. Trước Cách mạng Văn hóa, giới học thuật không có bản hiệu đính của Tam lễ chú sớ được lưu hành đơn lẻ. Bản Tam lễ chú sớ mà giới học giả thường dùng là bản trong bộ “Thập tam kinh chú sớ” do Nguyễn Nguyên chủ trì, Nam Xương phủ học khắc in vào năm Gia Khánh 21.
Năm 1980, Trung hoa thư cục căn cứ vào bản khắc của Nguyễn Nguyên được Thế giới thư cục in thu nhỏ, sau khi sửa lại và xuất bản ảnh ấn, phục vụ cho nhu cầu cấp thiết của giới học thuật. Chỉ tiếc rằng bản này hàng dày chữ nhỏ, đọc lâu sẽ có hại cho mắt.
Sau đó, Trung Hoa thư cục quyết định lần lượt chỉnh lý và xuất bản Thanh nhân chú sớ thập tam kinh. Cuốn Chu Lễ chính nghĩa của Tôn Di Nhượng do Vương Văn Cẩm tiên sinh hiệu đính là một trong những bản được đề xuất sớm nhất trong số đó. Nhưng số thiên quyển của Chu Lễ chính nghĩa quá nhiều, nội dung đề cập đến lại tương đối phức tạp, một số học giả nổi tiếng đương thời cho rằng cuốn này hơn khó, vốn khó có thể sửa đổi. Nhưng qua sự nỗ lực nhiều năm của ông Vương, tác phẩm hoàn chỉnh, nhận được nhiều lời tán thưởng của giới học thuật. Sau đó, Trung hoa thư cục lần lượt chọn ra để xuất bản có nhiều loại như cuốn Lễ Ký chú giải của Tôn Hi Đán, Lễ Ký huấn toản của Chu Bân, Đại Đái Lễ Ký giải hỗ của Vương Sính Trân, Lễ thư thông cố của Hoàng Dĩ Chu và rất nhiều sách khác, có những cống hiến lớn đối với giới học thuật.
Sau những năm 90 của thế kỷ 20, giới học thuật bắt đầu chỉnh lý bản Thập tam kinh chú sớ thời Hán Đường. Năm 1999, Bắc Kinh đại học xuất bản xã đã xuất bản hiệu đính của Thập tam kinh chú sớ do Lý Học Cần chủ biên. Cũng cùng thời gian đó, Đài Loan cũng cho xuất bản bản hiệu đính của Thập tam chú sớ do Chu Hòa tiên sinh chủ trì biên soạn.
Đối với thành công và tồn đọng của Thập tam kinh chú sớ được chỉnh lý ông Dã Gian Văn Sử của Đại Học Hirosima Nhật Bản đã từng có lời bình thuật, cho rằng mỗi bản đều có thành tích, nhưng mỗi bản đều có những vấn đề học thuật nên tránh. Hai bản Thập tam kinh chú sớ đã thuật ở trên đều lấy bản khắc của Nguyễn Nguyên làm bản gốc chỉnh lý mà thành, mà bản của Nguyễn Nguyên này lại lấy “Thập hàng bản” (bản “Thập tam kinh chú sớ” thời Tống được khắc trên gỗ, mỗi mặt 10 hàng chữ) được cất trữ trong Văn tuyển lầu tại Dương Châu vào thời Nam Tống làm bản gốc. “Thập hàng bản” sai sót khá nhiều, rườm rà lộn xộn, thậm chí đã xuất hiện những lỗi sai mới là “bản gốc không sai, nhưng bản họ Nguyễn lại sai”, cho nên, đến Nguyễn Nguyên cũng đều không cho là bản tốt.
Văn bản của Thập tam kinh chú sớ thời Nam Tống, ngoài “Thập hành bản” còn có “Bát hành bản” được tàng trữ trong Nội phủ. Trong đó, Chu Lễ chú sớ và Lễ kí chú sớ là do Trà Diêm Ti ở Lưỡng Chiết Đông Lộ san khắc, có niên đại sớm hơn “Thập hành bản”, nội dung cũng tốt hơn “Thập hành bản”. Năm 1990, phát động công tác chỉnh lí bản Thập tam kinh chú sớ thời Hán Đường lấy Bát hành bản làm bản gốc, do ông Trương Khởi Chi chủ trì. Vì bản này không có “Nghi lễ chú sớ” nên đã lấy sớ bản “Nghi lễ sớ” của Cảnh Đức Quan để bổ sung vào. Bản điểm hiệu“Chu lễ sớ”, “Nghi lễ chú sớ”, “Lễ kí chú sớ” đã hoàn thành trước và được Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã xuất bản năm 2008. Bởi “Bát hành bản” sai sót khá ít, không chỉ lỗi sai sót trong hiệu đính giảm trên 1/3 so với bản Nguyễn Nguyên, đồng thời chỉ ra không ít những lỗi sai mới trong bản Nguyễn Nguyên. Nhưng, vì việc mới lần đầu tiên hiệu định Thập tam kinh chú sớ, mà chuẩn bị của giới học thuật đến vấn đề này cũng chưa đủ , vì vậy nên bản hiệu đính nói ở trên về chất lượng vẫn còn tồn tại một số vấn đề nhất định, nên ngày sau này cần có một làm công tác chỉnh lí.
II. Việc nghiên cứu kinh truyện Tam Lễ
2. 1. Chu Lễ
Trong cả thế kỷ 20, việc nghiên cứu “Chu Lễ”có thể nói rất xuất sắc. Trong 50 năm đầu là những tác phẩm của những nhà nghiên cứu nổi tiếng như Tân học ngụy kinh khảo của Khang Hữu Vi, Luận Tần chỉ cấp (Chu Quan) thư của Hồ Thích, Chu quán trứ tác thời đại khảo” của Tiền Mục, Chu quan chất nghi của Quách Mạt Nhược. Trong 50 năm sau, thời kỳ này vẫn tiếp tục thế mạnh ấy với những tác phẩm như: Phân tích nội dung của Chu Lễ và thời kỳ sáng tác của nó của Dương Hướng Khuê, Truyền thuyết về việc Chu Công chế lễ và sự xuất hiện của bản “Chu quan” của Cố Hiệt Cương, Thời đại Chu Quan được thành lập và tính cách tư tưởng của nó của Từ Phục Quan, Tìm tòi mới về niên đại thành sách của Chu Lễ của Trần Liên Khánh, Những khảo sát mới về việc thành sách Chu quan và những phản ánh về văn hóa và thời đại của nó của Kim Xuân Phong, đó là điểm chính nổi bật của giai đoạn này. Nhiều danh gia như thế đầu tư nghiên cứu “Chu lễ” là hiện tượng hiếm gặp trong nghiên cứu kinh tịch.
Việc nghiên cứu Chu Lễ ở thời kỳ này còn được trợ giúp của việc nghiên cứu văn khắc trên đồ đồng của thời Đông Chu và Tây Chu . Những năm đầu như : Khảo lược tên các vị quan thời Chu của Dương Tuân Như, Chu Quan chất nghi của Quách Mạt Nhược, Khảo sát các chức quan thấy trong kim văn của đời Tây Chu của Cơ Duy Chí, Khảo sát tên các quan thấy trong kim văn của Từ Tông Nguyên, là những tác phẩm đi tiên phong; Trong những năm 80 của thế kỷ 20 thì có bài viết Nghiên cứu về chế độ quan lại trong kim văn ở thời Tây Chu” của Trương Á Sơ và Lưu Vũ.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về Chu Lễ của thời kỳ này đã hoàn toàn không giống với thời kỳ Càn Gia (Càn Long và Gia Khánh). Mọi người đều biết rằng, từ xưa cho đến nay, thuyết “lục kinh giai sử” đã bắt đầu được lưu hành. Phủ định đặc thù của kinh học, đưa kinh điển trở thành văn hiến lịch sử thông thường, chỉ thuần túy sử dụng phương thức sử học để thảo luận những vấn đề kinh học, trở thành một phong khí một thời. Nghiên cứu về Chu Lễ cũng từ con đường kinh học chuyển sang con đường sử học, điểm nóng trong các cuộc thảo luận là thời gian thành sách, hoàn cảnh xã hội và sự hình thành tư tưởng của Chu lễ v.v… Cần phải đề cập là, những nhà nghiên cứu Chu Lễ nói trên đa số là có điều kiện luyện tập kinh điển rất tốt, cho nên dù là có sự khác nhau nhưng những gì nói ra thì tất có nguyên do và lời nói cũng có nghĩa lí nhất định.
2. 2. Nghi Lễ
Nghi Lễ thời cổ được coi là khó đọc, các học giả am hiểu về nó chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong 50 năm trước thế kỷ 20, những nghiên cứu về Nghi Lễ tương đối ít ỏi, mờ nhạt, chỉ một số ít những người am hiểu về nó. Trong 50 năm sau, nhờ vào những thành tựu của giới khảo cổ học, việc nghiên cứu Nghi Lễ trên thực tế đã có sự tiến trển lớn. Những năm 50 đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ đã khai quật được một loạt những chiếc quan tài gỗ thời Chiến Quốc được gìn giữ tương đối hoàn chỉnh ở các vùng như quận Ngũ Lý Bài thành phố Trường Sa, hồ Ngưỡng Thiên, núi Tả Gia Công , vịnh Dương Gia …
Sau đó, tiên sinh Trần Công Nhu liền có bài nghiên cứu “Chế độ mai táng được ghi lại trong Sĩ táng lễ và Kí tịch lễ”, tiến hành đi sâu nghiên cứu hình thức mộ táng, cho rằng về đại thể thì những phát hiện khảo cổ đó khớp với chế độ tang tế được ghi trong Nghi lễ. Trần tiên sinh là học giả đầu tiên dùng Nghi Lễ để làm công tác so sánh nghiên cứu với những tư liệu, hiện vật của mộ táng thời Tiên Tần, có ảnh hưởng lớn đến giới khảo cổ, lịch sử học vẫn còn chưa ý thức được giá trị của Nghi lễ. Hai năm sau, nhà Lễ học nổi tiếng Thẩm Văn Trác đã viết bài “Một số ý kiến đối với bài “Chế độ mai táng được ghi lại trong Sĩ táng lễ và Kí tịch lễ””, đưa ra một số luận bàn đối với bài viết của ông Trần dước góc nhìn của kinh học. Thẩm tiên sinh đã nghiên cứu tỉ mỉ về Nghi Lễ, phân tích tỉ mỉ từng chỗ để làm sáng tỏ và giải quyết một số những vấn đề khó và quan trọng. Những thảo luận của hai học giả Thẩm tiên sinh và Trần Tiên sinh là những nghiên cứu chất lượng nhất về Nghi Lễ sau khi nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa thành lập.
Một sự kiện phát hiện khảo cổ trọng khác đại thúc đẩy việc nghiên cứu Nghi lễ trong thế kỉ20 là đó là: vào tháng 7 năm 1957, giới khảo cổ tìm được 1 loạt ván gỗ, thẻ tre Nghi Lễ trong khi khai quật một số ngôi mộ thời Hán ở số 6 Ma Thư Tử, huyện Vũ Uy, tỉnh Cam Túc. Tổng cộng có 469 tấm thẻ tre, phân làm 3 bản :
– Bản thứ nhất là ván gỗ, có 7 thiên là “Sĩ tương kiến”, “Phục truyện”, “Đặc sinh”, “Thiếu lao”, “Hữu tư”, “Yến lễ”, “Thái xạ”;
– Bản thứ hai cũng là ván gỗ, chỉ vỏn vẹn có 1 thiên “Phục truyện”;
– Bản thứ ba là thẻ tre, chỉ vỏn vẹn có 1 thiên “Tang phục”.
Việc khai quật những thẻ tre thời Tây Hán chỉ riêng kinh hoặc riêng truyện của thiên “Tang phục”, không chỉ khiến cho người ngày nay thấy được diện mạo thật bản lưu truyền thời Hán, mà còn đưa ra những căn cứ đang tin cậy trong việc xem xét và sửa chữa thời gian tuyển tác của thiên “Tang phục truyện” và việc xác nhận mối quan hệ phát triển của kinh và ký, kinh kí và truyện.
Người chỉnh lí chủ yếu thẻ tre đời Hán ở Vũ Uy – Trần Mộng Gia tiên sinh cho rằng, bản san kinh san kí ở trong bản thứ nhất và bản thứ hai, được biên soạn vào “Nghi tại Cam Lộ chi hậu”, sau đó Trịnh Huyền hợp biên phần kinh truyện cho “Tang phục”; Bản “Phục truyện” ở bản thứ nhất và thứ hai ra đời từ học phái Khánh Phổ.
Sau đó Thẩm Văn Trác tiên sinh viết một số bài như “ Sơ lược về việc thực hành điển lễ và việc biên soạn sách Nghi Lễ”, “Khảo về các thẻ tre phần “Phục truyện” đời Hán”, giải quyết toàn bộ các vấn đề liên quan đến các thẻ tre của thiên “ Phục truyện”, cùng với việc chất vấn những kết luận mà Trần Mộng Gia đã đưa ra, đã đưa ra rất nhiều kết luận mới như:
– “Phục truyện” là một phần truyện đơn lẻ tách khỏi kinh và lưu truyền độc lập;
– Chữ “kí” mà bản hiện nay dùng là để phân biệt “Tiền kinh hậu kí”, là người sau đời Hán thêm vào, Kinh và Kí phụ theo kinh, là hai bộ phận được biên soạn cùng một lúc của cuốn sách.
– Hai chữ “ truyện viết” (truyện nói rằng) trong kim bản “Phục truyện” cũng là do các nhà biên soạn đời sau thêm vào;
– Kim bản đề “Tử Hạ truyện”, cũng giống như thạch kinh thời Đường, thuyết cho rằng Tử Hạ biên soạn phần truyện là không đủ độ tin cậy;
– Thiên “Phục truyện” được viết ra dưới ảnh hưởng nặng nề của “ Lễ Ký”, thời gian tuyển của nó sớm nhất cũng phải sau khi các hoàn thành các cuốn sách bàn luận về lễ – Lễ kí, muộn nhất là trước năm Tần Thủy Hoàng thứ 34 phần thư khanh nho.
Thẩm tiên sinh lại có một bài “Từ sự hình thành bản kinh Kim văn thời Lưỡng Hán nói về việc truyền thụ bản kim văn kinh Lễ thời Lưỡng Hán”, thảo luận những vấn đề về “Khánh Thị Lễ học”. Căn cứ vào những ghi chép của Hán Thư thì Kim văn kinh Lễ có 3 nhà là Đại Đái, Tiểu Đái và Khánh Thị, đều được xác lập quan học. Nhưng trong 14 bác sĩ Ngũ kinh thời Đông Hán thì không có Khánh thị. Trong cuốn Khảo các bác sĩ thời Hán Ngụy của Vương Quốc Duy cho rằng phải tính cả Khánh thị, như thế thì có 15 bác sĩ. Thẩm tiên sinh cho rằng, từ thời Tần Hán đến nay, Lễ có 2 hệ thống song song là Thái thường bác sĩ và Lễ Kinh bác sĩ. Những năm cuối thời Vũ đế, Hậu Thương viết xong cuốn Hậu thị Khúc đài ký, thì lập làm bác sĩ, Kim văn học Kinh lễ chính thức được thành lập. Mà Thái thường nắm quyền quản lí nghi lễ của triều đình, để tư vấn cho hoàng đế, mà đại biểu chính là Thúc Tôn Thông. Khánh Thị học là sự truyền thừa của Thúc Tôn Thông, làm quan Chức Chí chuyên tu đính lễ nghĩ thời Hán, không có quan hệ gì với Bác sĩ kinh lễ của ngũ kinh. Vì Khánh Phổ đã từng là đệ tử của Hậu Thương nên từng nhầm lẫn rằng Khánh Phổ là một trong những gia pháp Hậu thị. Quan điểm của Thẩm tiên sinh đã giải quyết được mối nghi ngời lớn trong lịch sử Lễ học, đây là thành tựu mà các nhà Càn Gia thời nhà Thanh chưa từng đạt được.
2. 3. Lễ Ký
Lễ Ký vốn là phần kí phụ theo Nghi Lễ, nội dung của nó quá nửa là liên quan đến Nghi lễ. Cho nên phải hiểu thông được Nghi lễ mới có thể hiểu được Lễ ký, mà bản thân Nghi lễ vốn đã không dễ hiểu, bởi vậy việc nghiên cứu Lễ ký lại càng không dễ. Độ dài của Lễ Ký ở giữa Chu Lễ và Nghi Lễ nội dung rất phức tạp, các học giả nghiên cứu Lễ Ký đời Thanh chưa thể viết ra được Lễ Ký chính nghĩa để cùng sánh với Chu Lễ chính nghĩa và Nghi Lễ chính nghĩa. Người có thành tích tương đối cao trong việc nghiên cứu Lễ Ký ở đương đại có Hồng Nghiệp với Lễ Ký dẫn đắc tự. Hồng Nghiệp không tin vào thuyết Đái Thánh soạn 49 thiên Lễ Ký, (ông) cho rằng việc biên soạn thành sách Tiểu Đái Lễ Ký là ở vào sau thời Đái Đức, Đái Thánh và trước thời Trịnh Huyền, thuyết này có sức ảnh hưởng rất mạnh mẽ. Bài viết Luận về bản đầu tiên của Lễ Ký 49 thiên đích thực là do Đái Thánh biên soạn và bác bỏ quan điểm của Hồng Nghiệp cho rằng “Tiểu Đái Lễ Ký không phải là sách của Đái Thánh” của tác giả Dương Thiên Vũ để tranh luận về quan điểm của Hồng Nghiệp, cho rằng hầu hết các thiên chương của Lễ Ký thực ra là sao chép từ cổ văn “Kí” 131 thiên. Ngoài ra bài Niên đại hoàn thành và giái trị sử liệu của Lễ Ký của Từ Hi Thần cho rằng trong Lễ Ký tuy rằng không ít là trứ tác của Khổng Môn, nhưng các thiên “Tăng Tử vấn”, “Tạp ký”, “Khúc lễ”… đều là thủ bút của Hán Nho. Lễ Ký được hình thành vào cuối thời Hán, bởi những người thời Đông Hán như Mã Dung, Lư Thực…san định thành 49 thiên Lễ Ký ngày nay.
Các học giả nghiên cứu Lễ Ký khác đa số chỉ dựa vào một thiên nào đó để khảo luận về tư tưởng trên một phương diện nào đó thời cổ đại, như “Học kí” thảo luận về tư tưởng giáo dục, “Nhạc kí” thảo luận tư tưởng âm nhạc, “Lễ vận” thảo luận về tư tưởng đại đồng, “Trung dung” thảo luận về tư tưởng triết học… trong đó cũng có người tham thảo về niên đại soạn tác của các thiên.
Những nhà nghiên cứu Lễ Ký ở Hồng Công và Đài Loan có tác phẩm Vương chế cập kỳ chú sớ trích mậu của Cao Trọng Hoa, Lễ ký hiệu chứng và Trịnh chú dẫn thuật biệt bản Lễ Ký khảo thích của Vương Mộng Âu, Lễ Ký giảng nghĩa của Trình Triệu Hùng, Khổng Tử tam triều ký giải hỗ soạn sớ của Nguyễn Diên Trác, Lễ Ký chính nghĩa dẫn dật thư khảo của Hà Hi Lương…đều thể hiện năng lực nhất định.
Những nghiên cứu liên quan đến dật thư của Lễ Ký , trường đại học Waseda Nhật Bản có giữ tàn bản Lễ Ký tử bản sớ nghĩa, chỉ còn quyển thứ 59, đó là một nửa “Tang phục tiểu ký”. Từ rất sớm đã có bản in hồ, nhưng lưu truyền rất ít. Sau này có thạch bản của La Chấn Ngọc, lưu truyền tuy rộng rãi nhưng chất lượng còn thấp, các học giả đa số dựa vào bản này để tiến hành nghiên cứu. La Chấn Ngọc cho rằng bản này là của Trịnh Ước đời Lương sao chép, Hồ Ngọc Tấn theo thuyết này. Chương thứ 4 “Dật thư nghiệm chứng” trong sách Nam Bắc triều chí sơ Đường nghĩa sớ học nghiên cứu của tiên sinh Kiều Bản Tú Mỹ (Hashimoto Hidemi – Giảng viên đại học Bắc Kinh) khảo đính lại quyển này do Hoàng Khản soạn, Trịnh Ước chẳng qua chỉ tham gia phê ngữ mà thôi.
Trong gần 50 năm, những phát hiện khảo cổ liên quan đến nghiên cứu Lễ Ký cũng không phải không có, quan trọng nhất là năm 1995 khai quật các văn bản thẻ tre của Nho gia trong ngôi mộ nước Sở ở số 1 thôn Quách Điếm huyện Kinh Môn tỉnh Hồ Bắc, tổng cộng hơn 800 thẻ tre. Qua chỉnh lí biên soạn thành 16 thiên, trong đó 14 thiên là các sách của Nho gia, rất nhiều tài liệu liên quan đến nghiên cứu Lễ Ký. Làm cho người ta kinh ngạc nhất là có hoàn chỉnh thiên Lễ Ký – Truy y, ngoài ra, các chữ trong các thiên “Đàn cung”, “Tang phục tứ chế”… của Lễ Ký cũng xuất hiện từng đoạn trên các thẻ tre. Đó thu hoạch mà các nhà Lễ học sau thời Tây Hán không thể mơ đến. Đáng tiếc là trong các chuyên luận kết hợp những thẻ tre trong mộ nước Sở ở Quách Điếm để nghiên cứu Lễ Ký , thành tựu mang tính đột biến không nhiều.
III. Tổng hợp nghiêu cứu Tam Lễ
Đại sư kinh học thời Đông Hán Trịnh Huyền là người đầu tiên chú giải cho Tam Lễ. Từ sau khi Trịnh Huyền chú giải thì các chú giải của các tác giả khác đều bị bỏ. Từ trăm đời nay, luôn có quan điểm là “Lễ học tức Trịnh học” (lễ học tức là cái học của họ Trịnh), Trịnh chú trở thành ông tổ của Lễ học. Trịnh học uyên bác tổng hợp, tự trở thành một thể. Nếu không thông Trịnh học thì Lễ học cũng không thể thông tỏ, người có thành tựu nghiên cứu cao nhất về Trịnh huyền thời kỳ đương đại là Trương Thuấn Huy tiên sinh. Khi còn trẻ ông vẫn luôn suy tôn cái học của Trịnh Huyền, đặc biệt chuyên tâm về Tam lễ chú, Mao Thi Tiên của họ Trịnh! Khi về già ông đã lấy những bản thảo cũ làm làm cơ sở để tổng kết thành tựu Trịnh học, soạn ra một số thiên như: “Trịnh học tự lục”, “Trịnh thị hiệu thù học phát vi”, “Trịnh học kinh chú thích liệt”, “Trịnh học truyền thuật khảo”, “Trịnh nhã”…, tập hợp thành cuốn Trịnh học tùng trứ, cống hiến cho giới học thuật. Năm 2007 Dương Thiên Vũ cho ra đời cuốn sách Trịnh Huyền Tam Lễ chú, là tập hợp những tâm đắc của tác giả trong nhiều năm nghiên cứu Trịnh Huyền .
Những tác phẩm tổng hợp Tam Lễ nghiên cứu xã hội thời Chu, thì có sách Tông Chu xã hội dữ lễ nhạc văn minh của Dương Hướng Khuê, và sách Tông Chu Lễ nhạc văn minh khảo luận của Thẩm Văn Trác, hai cuốn sách này đều là thủ bút của hai đại gia, chất lượng rất tốt. Hệ thống nghiên cứu về lễ chế Trung Quốc cổ đại có quyển Trung Quốc chế lễ sử, tài liệu lịch sử phong phú, nội dung sát thực, trở thành một hệ thống cụ thể.
Sách công cụ để nghiên cứu Lễ học phải kể đến cuốn Tam Lễ từ điển của Tiền Huyền và Tiền Hưng Kỳ, sách này đã lấy hơn 50 nghìn điều từ Tam lễ và Đại Đái Lễ Ký phân làm 32 loại như: Lễ thư; Chức quan; Chính giáo; Cương vực; Tài dụng; thông Lễ; Tế Tự; Tang phục; Tông pháp; Xưng vị; Hình pháp; Điền liệt, dưới mỗi điều thì trích dẫn nguyên văn, rồi đến chú thích, khảo chứng có khi phụ thêm đồ họa. Ngoài ra Tiền Huyền Lanh có Tam Lễ thông, lời nói đầu của cuốn sách luận thuật về tính chất và phương pháp nghiên cứu của Tam Lễ. Chính văn phân làm bốn thiên là: lễ thư, danh vật, chế độ, lễ nghĩa, dưới mỗi thiên lại làm thành các chuyên đề, nội dung rộng lớn tận tường, khảo nghiệm và chứng minh một cách sắc nét.
Về việc nghiên cứu Lễ học truyền thống, trước mắt đang có xu thế là khôi phục lại, những luận bàn sáng tác của các học giả trẻ tuổi ngày càng tăng lên, lĩnh vực tiếp cận cũng không ngừng được mở rộng. Ví dụ, cuốn sách Ngũ Lễ thông khảo của Tần Huệ Điền, trước đây mọi người cho nó là một con đường khó không dám đi vào, là một đầu sách lớn nhất trong các trứ tác nghiên cứu kinh điển, luôn có ít người nghiên cứu. Gần đây, trong hội thảo nghiên cứu học thuật quốc tế kinh học Trung Quốc lần thứ hai tại trường Đại học Bắc Kinh, lại có những luận văn nghiên cứu riêng về sách này, làm cho mọi người hết sức vui mừng.
IV. Những vấn đề tồn tại trước mắt trong việc nghiên cứu Lễ học
Ba mươi năm gần đây, số lượng luận văn học vị, luận văn, chuyên đề, của việc nghiên cứu Tam Lễ không ngừng phát triển. Nhưng bình tâm nhìn lại, thì trình độ tổng thể của nó còn chưa khôi phục được đến trình độ của trước thời văn cách. Điều này đã có nguyên nhân lịch sử cũng như nguyên nhân hiện thực, dưới đây xin phân tích sơ lược.
Đầu tiên, là Kinh học không được chấn hưng, Tam Lễ học là Kinh học. Học thuật vốn có của Trung Quốc có đại cương là Kinh, Sử, Tử, Tập, Kinh ở vị trí đầu tiên. Giáo sư Diệp Quốc Lương viện trưởng viện văn học Đại học Đài Loan nói rằng: Kinh học là đầu tầu của học thuật truyền thống Trung Quốc, điều đó rất đúng. Ở Trung Quốc thời cổ, Kinh học là tư tưởng chỉ đạo, nó là cái đạo chủ yếu để mà kinh quốc trị dân. Có một số văn hiến, ví dụ như Kinh Thi, được xem như các tác phẩm văn học, nhưng các bậc hiền triết thời cổ lại coi nó như công cụ của giáo hóa, họ đã thông qua các phương thức giải thích, tiên trú… để phô bày cho nó cái nội hàm nhân văn phong phú trong nó. Nghiên cứu Kinh Thi như ca dao cổ đại thuần túy, tưởng là khôi phục chân bản của nó, nhưng lại đã tách rời tinh thần của nó. Chu Dịch nguyên bản là sách dùng để bói, nhưng người đời sau đã cho nó một cách giải thích hoàn toàn mới, nếu như chỉ coi sách này là để bói, thì đã phá hoại bộ kinh điển này. Tam Lễ cũng nên được coi như vậy. Có thể nói rằng: không nghiên cứu Kinh học thì không nắm trọn được linh hồn của văn hóa học thuật Trung Quốc. Nhưng trăm năm gần đây, việc thiết lập khoa học của các trường Đại học nước ta hoàn toàn phỏng theo mô thức phương Tây, giống như gọt chân để đi giầy cho vừa vặn , để giải thích hệ thống khoa học nhân văn có chiều dài ngàn năm ở nước ta, lấy kết cấu và cách thức của 3 hệ Văn – Sử – Triết, Kinh học tức thì không có chỗ yên ổn. Như phương pháp phân loại sách vở ngày nay sẽ những văn hiến kinh học có nội dung Tam Lễ được qui về môn loại Triết Học, thật là nực cười. Chu Lễ là sách giảng giải về quan chế, Nghi Lễ ghi lại các loại nghi thức của thời thượng cổ, làm sao lại là tác phẩm triết học? Loại văn hiến này có ít người hỏi đến, cũng không đáng lạ.
Thứ hai, là sự thiếu hụt về nhân tài Kinh học. Đầu thế kỷ 20, sau Kinh học bị phế bỏ, trong trạng thái tự sinh tự diệt. Nhưng trong 50 năm đầu thế kỉ, dư âm của Kinh học vẫn còn, học giới vẫn còn những học giả có tri thức và hiểu biết về Kinh học, họ không muốn vứt bỏ đối với việc truy cầu Kinh học. Điển hình nhất trong giới học giả như tiên sinh Thẩm Văn Trác, học thuật của ông uyên thâm, cần mẫn không biết mệt mỏi, đam mê cả đời, không làm vì danh lợi và thời thượng chi phối. Tiên sinh Dương Hướng Khuê lúc sống đã dùng 8 chữ “ phương Nam kinh sư, thạc quả cẩn tồn” để đánh giá về Thẩm tiên sinh. Đoạn Hy Trọng cũng rất giỏi về Nghi Lễ, có bản kiểm tra, đính chính của Chính Nghĩa Nghi Lễ được lưu hành. Đoạn Hy Trọng lại có một cuốn Luận thập Kinh Lễ, là tác phẩm tâm đắc trong nhiều năm nghiên cứu Nghi Lễ, nổi bật trong cuốn sách là: đề mục theo các nhà đời Hán, thiên đệ theo Đại Đái, văn tự thì theo lối kim văn, niên đại hoàn thành cuốn sách (Nghi Lễ) vào thời Đông Chu do Khổng Tử san định, giảng giải Kinh thường tuân theo gia pháp mà không chọn cổ học, thuật theo sự ghi chép của nhiều tuyển chọn khác, chỉnh lí kinh quý ở làm sáng tỏ chương cú, giải thích Lễ phù hợp như Dịch có đồ họa, giải thích Lễ phù hợp như Xuân Thu theo lệ, học thuật Kinh Lễ và Xuân Thu cùng một nguồn. có thể nhìn thấy đều là con đương dùng dùng phương pháp kinh học để nghiên cứu Kinh Lễ là tác phẩm chính tông của nghiên cứu lễ học .Chính là do sự bảo lưu kiên định của họ, mà Lễ Học Trung Quốc thế kỉ 20 mới để lại ánh sáng huy hoàng. Mà sau họ, bất kể là về số người hay về cả trình độ học thuật, đều có khoảng cách rất lớn.
Nguyên nhân căn bản của sự suy yếu Kinh Học, còn là do sự bất hợp lí trong thể chế của chương trình trong trường học. 50 năm gần đây, ở đại lục dường như không có một trường đại học nào có chương trình kinh học. Nghiên cứu kinh học cần có sự rèn luyện Tiểu học (tức là cái học văn học, âm vận, huấn hỗ) và văn hiến học, nếu không thì không làm được. Như việc học cao học ngày nay, Văn – Sử – Triết đều trở thành những lĩnh vực riêng, hai khoa Triết học và Lịch sử không mở chương trình đào tạo này, khoa văn học tuy có, nhưng lại không có chương trình Kinh học. vì rèn luyện nghiên cứu Kinh Học bị thiếu hụt phổ biến, học sinh đa phần ngay cả chú sớ đều đọc không hiểu, thậm chí xem các sách phồn thể là đau óc quay cuồng.
Thứ ba, người nghiên cứu không đọc nguyên điển. Thi, Thư, Lễ, Dịch .. đều thuộc kinh điển của Nho gia, nhưng tính chất thì không giống nhau, phương pháp nghiên cứu cũng có đặc thù. Nhận thức của các học giả thời cổ về Tam Lễ, đa phần lấy “danh vật độ số chi học” để khái quát, câu đó tuy không thể nói hết, nhưng lại nói được một mặt nổi bật nhất của Tam Lễ. Việc hành Lễ cần phải có cung thất, khí mãnh, sinh ngưu, mạo phục, nhạc cụ, cờ tinh, tịch vị… từng việc đều phải có những quy chế nghiêm ngặt. Do niên đại đã xa, không ít hình chế của khí vật đã thất truyền, khảo cứu không có căn cứ Sự sắp đặt về đông tự, tây tự, đông đường, tây đường….rốt cuộc phân bố sắp đặt như thế nào? Quan mạo phục sức, là danh mục đa dạng, hình luật phức tạp, những miêu tả trong sách vở cũng rất mờ mịt, rất khó để mà đọc hết.
Những vấn đề tương tự như thế nếu như không thể hiểu rõ, thì việc chỉnh lý Nghi Lễ như mây quấn núi, sao luận bàn về Lễ Nghĩa? Vì thế các học giả đời cổ đều cho rằng “Lễ là thực học”. “Thực học” đó đều không phải là “thực học” trong “trào lưu tư tưởng thực học” của thời đại Minh Thanh, mà là không thể dựa vào những lời hư ngôn để mà luận bàn nó. Do đó, bước thứ nhất của việc nghiên cứu Lễ học, là quan trọng ở việc đọc nguyên điển Tam Lễ, nghiên cứu chữ , làm sáng rõ nó giảng giải về cái gì? Sách Kinh Lễ khó đọc, từ xưa đến nay đều vậy. Nhưng mà, các học giả nghiên cứu Tam Lễ ngày nay, nhiều người nôn nóng trong cái lợi trước mắt, mà chưa từng đọc qua một bộ nguyên điển nào, hoặc là không có dự tính đọc, một số người trong đó đã viết các tác phẩm chuyên về Lễ học, hoặc có người đã nhận được bằng tiến sĩ luận văn lễ học. Chỉ như thế, trong các tác phẩm của họ khó tránh khỏi việc xuất hiện những lối sai của những tri thức thông thường. Ví dụ như, trong sách nào đó thảo luận về nguồn gốc của trang phục, dẫn dụng câu trong Kinh Thi “tự đông, tự tây, tự nam, tự bắc,vô tư bất phục”, nói rằng chữ “phục” ở đây để chỉ tang phục, thì liền suy đoán tang phục có từ thời Chu. Mà không biết rằng, đó là bài thơ ca ngợi Văn Công, ý bài thơ là, người bốn phương từ đông tây nam bắc, không người nào là không quy phục Văn Vương. Chữ “phục” trong bài thơ không hề có liên quan gì đến tang phục. Cũng có luận văn lẫn lộn về việc thiên tử tế trời và tế cầu mưa là một, mà không biết rằng Nam Giao tế trời là lễ tế cấp bậc cao nhất trong tế tự, chỉ có thiên tử mới có tư cách để tế lễ đó, ngày tế tự là ngày đông chí, địa điểm là ở Nam Giao, còn tế cầu mưa còn gọi là “vu”, một năm có thể tế nhiều lần, người chủ tế cũng có thể là thiên tử, cũng có thể là vua chư hầu, thậm chí là quan địa phương. Do không đọc nguyên điển đến nỗi xuất hiện sai lầm đó. Thiên “Đàn Cung” của Lễ Ký đề cập, Tăng Tử lúc sắp chết, cảm thấy “trách” (tẩm tịch) quá hoa mĩ, sai với lễ chế, do đó ông lệnh cho con của mình là Tăng Nguyên đỡ dậy để đổi “trách” cũng là đổi chiếu nằm, mà sau này thành điển cố “dịch trách”. Nhưng lại có học giả đem ngắt hai chữ đó thành “dịch” và “trách”, “dịch” là tên cuốn sách, không biết “Dịch trách” cần giải thích như thế nào?
Thứ tư, luận văn không có tính vấn đề. Việc viết luận văn, là lấy giải quyết một vấn đề học thuật nào đó làm tiền đề cơ bản. Do đó, luận văn có hay không ý thứ vấn đề, luận đề có hay không giá trị học thuật, là những yếu tố cơ bản để đánh giá luận văn. Mà vấn đề nổi bật nhất trong việc nghiên cứu Lễ học ngày nay, hoàn toàn khuyết thiếu ý thức vấn đề, không ít luận văn nói vòng vo, mà nói trực tiếp tới các vấn đề trung tâm của Lễ học. nguyên nhân cơ bản dẫn đến xuất hiện hiện tượng này, là sự lạ lẫm đối với lịch sử Lễ học, ví dụ như các học giả Hán Đường trong việc nghiên cứu Tam Lễ tồn tại những cái tranh luận trọng yếu? Điểm mấu chốt của phân kì là như thế nào? Thời Thanh là đỉnh cao của việc nghiên cứu Lễ học, các học giả của thời kỳ này đã giải quyết được những cái vấn đề học thuật nào? thông qua con đường nào? Cách giải quyết như thế nào? Vì những vấn đề này không rõ ràng, cho nên đối mặt với Kinh Lễ không biết tác giả muốn nói gì, cũng không thể phán đoán tính đúng sai trong những cái nói không giống nhau. Có người mưu lợi, tập hợp gom góp lại các bài tựa của của các tác phẩm Lễ học ở một triều đại nào đó, miễn cưỡng thành văn, nói sách là “phát tiền nhân sở vị phát” (nói lên những ý người xưa chưa nói ra),“siêu ngộ tiền hiền” (gặp gỡ tiền nhân). Kỳ thực các bìa tựa của người xưa thường thường giống với các bài tựa của người nay, rất nhiều ngôn từ hoa mĩ, không chân thực. Những bài tựa đó đều không thể không dẫn dụng, vấn đề là nhất định phải kết hợp với vấn đề mà tác giả nghiên cứu, không thì chỉ là những ngôn từ phù phiếm, không có ích lợi gì cho học thuật.
Thứ năm, xem thường nghiên cứu cơ sở. Lễ học là cái học về khuôn phép của lễ và ý nghĩa của lễ, trước là về nghi thức, khí vật, phục sức của lễ, sau là “bản nghĩa trong chế tác của thánh nhân”, chính là nghiên cứu tư tưởng lễ học như các nói của người đời nay. Có người cho rằng việc tìm hiểu nghĩa lí của lễ là nghiên cứu tầng cao, còn việc tìm hiểu danh vật, độ số cho rằng đó là công việc tầng thấp, liền chỉ ở nghiên cứu tầng cao, công khai coi thường nghiên cứu tầng thấp, loại nhận thức nông cạn như vậy, ảnh hưởng lớn đến trình độ nghiên cứu lễ học thời nay. Tầng cao, tầng thấp, chỉ có thể là cách nói thứ tự trước sau của nghiên cứu, bản thân nói không có sự phân biệt cao thấp, tinh thô. Nghiên cứu hai tầng thứ đó, giống như những bậc trước sau trong cầu thang, nếu không đi qua các bậc thấp thì có thể đi đến bậc cao được không? Nếu như chỉ có tầng cao mà không có bậc thấp thì bậc trên cao có thể treo lơ lửng trên không được không? Cao thấp trong trình độ học thuật, hoàn toàn không phải ở việc nghiên cứu tầng thứ nào, làm nghiên cứu cơ sở thì vẫn có được thành tựu kiệt xuất, làm nghiên cứu tư tưởng cũng không nhất định là học giả ưu tú.
Thứ sáu, làm so sánh nông cạn. trước đây, có một số học giả Nhật Bản nghiên cứu Lễ học Trung Quốc, so sánh đơn giản giữa các tài liệu dân tộc học của Đông Nam Á, hoặc Châu Mĩ, châu Phi với Nghi Lễ Vì lịch sử và văn hóa giữa các dân tộc có sự khác biệt rất lớn, nghiên cứu như thế xem ra thì rất bác học, cũng rất sôi nổi, trên thực tế là so sánh bên ngoài, chỗ nào cũng khác nhau. Khung hưởng không tốt như thế, cho đến nay vẫn có một số học giả trẻ tuổi duy trì. Cái nguy hại của nó, tiên sinh Dương Khoan đã sớm chỉ ra trong cuốn sách Cổ sử tân khảo.
Thứ bảy, vấn đề môi trường học thuật: Các trường cao đẳng đại học và cơ cấu nghiên cứu khoa học ngày nay, thực hành phổ biến cái gọi là chế độ khảo hạch công trạng, chỉ tiêu chủ yếu là số lượng luận văn, mà không phải là chất lượng, hoặc là dùng đẳng cấp của tạp chí để thay cho chất lượng của luận văn. Số lượng luận văn quan hệ đến tên tuổi của trường học, cho nên được xem là việc quan trọng hàng đầu. Luận văn phát biểu không đạt đến số lượng quy định, thì không được thăng chức, học vị cũng không được trao tặng, thế là mọi người trăm phương ngàn kế phát biểu luận văn. Vì yêu cầu về số lượng và thời gian, nên một số luận đề đầu tư nhiều, hoàn thành chậm thì tất nhiên cũng rất ít người làm, lỡ có làm rồi, cũng là cũng chỉ làm qua loa cẩu thả. Lộ ra một số mặt như một số sách báo học thuật công khai tính buôn bán trang báo, cá biệt biên tập làm giao dịch qua lại, phá hoại nghiêm trọng môi trường học thuật. Gần đây, giáo sư Lí Bá Trọng phát biểu luận đàm, phê bình báo của một số trường đại học cao đẳng trở thành “công trường chế tạo rác rưởi học thuật”, dẫn ra sự phản đối quyết liệt của giới học thuật. Cho dù không phải tất cả các sách báo đều như vậy, nhưng hiện tượng này thực sự vẫn tồn tại. Gần đây chúng tôi thấy, một số tờ báo đăng một luận văn liên quan đến học Lễ học, đến cả kiến thức cơ bản cũng không có, có thể thấy tác giả cơ bản không đọc hiểu nguyên điển. Rất rõ ràng, nó sở dĩ được đăng là vì ngay cả biên tập cũng không hiểu, hoặc là có một lí do khác. Biên tập đăng lên một thứ văn chương vàng thau lẫn lộn, không chỉ là đã phá hoại danh tiếng của tờ báo học thuật, mà còn nhất định sẽ tạo thành những con đường sai trái cho độc giả. Trước mắt không ít nghiên cứu sinh vì không hiểu nguyên điển, luận văn phần nhiều là tải từ trên mạng, cắt dán mà thành, bất kể là đúng sai, tốt xấu, thu vén tất cả, trở thành một căn cứ học thuật mới. Cá biệt biên tập còn giương cao cờ hiệu tranh luận học thuật, cổ vũ việc phát biểu luận văn. Tranh luận học thuật cần phải có tầng thứ, cần phải thúc đẩy bước tiến học thuật, mà không phải là khuấy nước lấy sóng. Vì thế, giới học thuật làm thế nào để bỏ đi đồ giả, đồ kém, bảo đảm trình độ của các tờ báo học thuật, trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Ở đây chỉ rât một số điểm cần thiết là, trước mắt trên không ít trang bìa một số tờ báo đều viết nhãn mác rõ ràng là “ủy viên hội học thuật” nhưng đối một số tờ báo này mà nói, nói chẳng qua chỉ là trang trí bên ngoài, căn bản không có tác dụng gì, không thì cũng không thể giải thích được vì sao một thứ học thuật rác rưởi như thế lại vẫn được đăng tải.
Tổng kết những điều đã luận thuật ở trên, trước mắt nghiên cứu lễ học còn tồn tại rất nhiều vấn đề, vừa có nguyên nhân khách quan, vừa có nguyên nhân chủ quan, có nhân tố chế độ cũng có nhân tố tự thân. Tình hình không thể lạc quan ,yêu cầu phải có sự nỗ lực của mọi người, cũng cần phải có một thời gian dài mới có thi vọng giải quyết.
—————————————————————————-
注意: 这只是我大学三年期礼经门课的中期考试,所以我翻译时有点改变,我也省略几句话。
Khái quát Thượng Thư học
Khái quát Thượng Thư học thường được tiến hành trên bốn phương diện: Văn bản và tình hình lưu truyền văn bản Thượng Thư thời Tiên Tần Lưỡng Hán; sự tranh chấp cổ văn Thượng Thư và kim văn Thượng Thư thời kì Lưỡng Hán Ngụy Tấn Nam Bắc Triều; biện ngụy cổ văn Thượng Thư từ thời Tống đến nay và những tìm hiểu mới về cổ văn Thượng Thư. Trong bài viết này, chỉ đề cập đến hai vấn đề chính là Văn bản và tình hình lưu truyền văn bản Thượng Thư thời Tiên Tần Lưỡng Hán và sự tranh chấp cổ văn Thượng Thư và kim văn Thượng Thư thời kì Lưỡng Hán Ngụy Tấn Nam Bắc Triều.
I. Văn bản Thượng Thư
- 1. Sự hình thành văn bản Thượng Thư
“Thư” là bộ điển tịch quan trọng được lưu truyền rất rộng rãi thời Tiên Tần, là tập hợp các văn kiện chính trị liên quan đến thể chế tổ chức nhà nước mà tác giả chính là sử quan các đời Ngu, Hạ, Thương, Chu nhưng chỉ có nhà Ân và nhà Chu là có sự kiện ghi chép rõ ràng, còn nhà Ngu và Hạ thì đã bị mất mát nhiều. Vào thời Tiên Tần chưa có tên gọi Thượng Thư mà chỉ gọi là Thư hay trước chữ “Thư” có thêm tên các triều đại như gọi trực tiếp là “Ngu Thư”, “Hạ Thư”, “Thương Thư”, “Chu Thư”… phải từ thời Hán trở về sau mới có tên là “Thượng Thư”, “Thư Kinh”.
Nhiều kinh sách[1] nghi lại người có công biên soạn Thượng Thư là nhà văn hiến học, giáo dục học vĩ đại đầu thời Xuân Thu – Khổng Tử, ngài đã chỉnh lý “Thư”, đưa “Thư” trở thành một trong những giáo trình chủ yếu giảng giảng dạy đệ tử. Tuy nhiên chỉ có thể khẳng định Khổng Tử là người có công biên soạn Thượng Thư nhưng không thể khẳng định các văn bản Thượng Thư về sau là thủ bút của Khổng Tử. Vì đây vốn là văn bản phức tạp và có luôn có sự bổ sung chỉnh sửa của sử quan và các nhà kinh học sau này.
1. 2. Các văn bản Thượng Thư
Việc xác định văn bản Thượng Thư là một việc rất khó khăn bởi vì trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, vùng miền khác nhau, quốc gia khác nhau, bộ điển tịch quan trọng này rất có khả năng có nhiều bản chép tay khác nhau, số thiên trong “Thư” so với các bản chép tay “Thượng Thư” xuất hiện sau thời Hán cũng khác nhau rất nhiều. Căn cứ theo thống kê của các học giả, từ thời Tiên Tần đến nay là hơn 330 bản Thượng Thư.
Hơn nữa, văn bản Thương Thư cũng như các điển tịch khác chịu sự tác động nghiêm trọng trong một số biến động lịch sử, dẫn đến sự mất mát văn bản nguyên thủy, và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của nhiều văn bản Thượng Thư.
Đầu tiên là việc Tần Thủy Hoàng theo lời Thừa tướng Lí Tư thực hành chính sách “phần thư khanh nho”, đốt hết kinh tịch các nhà, nghiêm cấm bách tính giữ riêng các điển tịch văn hoá như “Thi”, “Thư’ khiến cho việc sách lưu giữ trong dân gian bị đốt gần hết. Sách Sử Kí, phần Nho Lâm Truyện viết: “Đến thời Tần, đốt sách “Thi”, “Thư”, chôn thuật sĩ, “lục nghệ” cũng theo đó mà mất dần”.
Tuy nhiên vào thời Tần vẫn còn một số lượng kinh tịch đáng kế được cất giữ trong kho sách của nhà nước. Chỉ đến cuối thời Tần, Hạng Vũ đánh vào thành Hàm Dương, giết vương tử và con cháu nhà Tần, thiêu đốt cung thất nhà Tần, “lửa cháy ba tháng còn chưa dứt” … thì toàn bộ đồ thư hoàng gia nhà Tần bị đốt thành tro tàn. Đến lúc này các bản “Thư” chép tay thời Tiên Tần gần như thất truyền.
Đến đầu thời Hán Văn Đế, nhà nước phải thi hành chính sách khuyến khích dân gian hiến sách, để mong có được kinh tịch các nhà. Chính vì thế về sau mới liên tục có nhiều bản chép tay “Thượng Thư” xuất hiện. Bản chép tay thời Hán ghi lại trong lịch sử có 8 bản gồm cả cổ văn và kim văn. Tuy nhiên, đến năm Vĩnh Gia thứ 5 đời Tấn Huệ Đế, xảy ra loạn Vĩnh Gia[2], điển tích văn hóa của Trung Quốc chịu sự tổn thất nghiêm trọng. Sau loạn Vĩnh Gia, bản kim văn Thượng Thư của ba nhà, sau hơn 100 năm lưu truyền từ thời tây Hán cuối cùng thì đã mất.
Sau đó, trong dân gian xuất hiện văn bản Thượng Thư mới gọi là Khổng truyện cổ văn Thượng Thư, khi bản này xuất hiện, các loại văn bản cổ văn Thượng thư khác lưu hành từ thời Lưỡng Hán về sau, trong xã hội rất ít người hỏi đến. Theo “Tùy Đường – Kinh tịch chí” ghi lại, từ triều Tùy đến những năm đầu đời Đường, Khổng truyện cổ văn thượng thư do nhóm Mã Dung, Trịnh Huyền, Vương Túc chú vẫn còn tồn tại, nhưng sau khi loạn An Sử, các loại văn bản Cổ văn Thượng thư ghi chép thời sơ Đường cũng lần lượt thất truyền. Chỉ còn lại bản của Mai Trách truyền lại cho đến ngày nay.
Theo ghi chép thì từng các văn bản Thượng Thư sau:
1. Phục Sinh bản
Sở dĩ gọi là Phục Sinh bản vì bản này là vốn được Phục Sinh người đời Hán lưu truyền[3].
Phục Sinh tức Phục Thắng là quan bác sĩ thời nhà Tần chuyên về Thượng Thư. Khi nhà Tần có lệnh cấm lưu truyền sách trong dân gian thì cất giấu trong nhà một bộ. Sau khi hết loạn, Hán Huệ Đế ra chiếu kêu gọi hiến sách, Phục Thắng về nhà tìm lại sách Thượng Thư nhưng thấy mất mấy chục thiên, còn 28 thiên, đem ra truyền dạy ở Tề Lỗ. Như vậy thực chất bản của Phục Sinh chính là văn bản Thượng Thư thời Tần. Thời Hán Văn Đế truyền đình không có văn bản Thượng Thư nên cho triệu Phục Sinh vào cung nhưng vì tuổi cao không đi lại được nên triều đình cử Triều Thố đến ghi lại văn thượng thư của Phục Sinh, nên gọi là Phục Sinh bản
Văn bản Thượng Thư do Phục Sinh truyền lại có tổng cộng 28 thiên. Mục lục 28 thiên này như sau:
“Ngu Hạ thư” có 4 thiên: “Nghiêu điển”, “Cao dao mô”, “Vũ cống”, “Cam thệ”
“Thương thư” có 5 thiên: “Thang thệ”, “Bàn canh”, “Cao tông đồng nhật”, “Tây bá kham lê”, “Vi tử”.
“Chu thư” có 19 thiên: “ Mục thệ”, “Hồng Phạm”, “Kim đằng”, “Đại cáo”, “Khang Cáo”, “Tửu cáo”, “Tử tài”, “Thiệu cáo”, “Lạc cáo”, “Đa sĩ”, “Vô dật”, “Quân thích”, “Đa phương”, “Lập chính”, “Cố mệnh”, “Phí thệ”, “Lã hình”, “Văn hầu chi mệnh”, “Tần thệ”.
Sau này trong dân gian phát hiện một thiên “Thái thệ” trong Thượng Thư . Trong Biệt lục của Lưu Hướng đời Tây Hán có nói: Cuối đời Hán Vũ đế, dân có được thiên “Thái thệ” trong bức tường, dâng cho Vũ đế. Vũ đế lại sai quan bác sĩ cùng đọc, trình bày ra, mấy tháng thì xong, truyền đi dạy người.
Vương Doãn Diệc thời Đông Hán có ghi chép: Đại khái bản “Thượng thư” có khoảng 100 thiên, Khổng Tử truyền lại. Gặp phải lúc nhà Tần dùng lời tấu nghị của Lí Tư, thiêu đốt ngũ kinh, Phục Sinh người Tế Nam ôm trăm thiên cất trong núi. Thời Hiếu Cảnh Hoàng đế, bắt đầu lưu trữ sách “Thượng thư. Phục Sinh lấy từ trong núi ra. Cảnh Đế sai Triều Thố đến đó nhận được lại hơn 20 thiên “Thượng thư”. Phục Sinh già chết, “Thư” bị tàn khuyết. Triều Thố truyền cho Nghê Khoan. Đến thời Hiếu Tuyên Hoàng đế, một người con gái Hà Nội phát hiện trong nhà cũ một số thiên dật thư của các kinh “Dịch”, “Lễ”, “Thượng thư”, dâng lên vua. Tuyên đế hạ chiếu giao cho các Bác sĩ, sau đó “Dịch”, “Lễ”, “Thượng thư” đều tăng thêm một thiên, vì thế định ra “Thượng thư” có 29 thiên.
Một thiên Thượng thư mà Nữ Tử ở Hà Nội hiến tặng là thiên Thái thệ. Liên quan đến thời gian phát hiện thiên Thái Thệ, 2 cuốn sách ghi chép có sự sai biệt. Lưu Hướng nói những năm cuối thời Hán Vũ Đế, Vương Sung thì nói ở thời Hán Tuyên Đế, còn có người cho rằng ở thời Hán Cảnh Đế. Những tình tiết ghi chép tường tận cụ thể và địa điểm phát hiện thiên này cũng có sự khác nhau. Vấn đề thiên Thái Thệ tương đối phức tạp, liên quan đến vấn đề chân ngụy và quá trình lưu truyền của Thiên Thái Thệ, tiên sinh Trần Mộng Gia ở trong “ Thượng Thư thông luận” có luận thuật rất chi tiết rõ ràng.
Về vấn đề chân ngụy của văn bản, dựa vào ghi chép sách Hán Thư – Nho lâm truyện thì Phục Sinh tuổi đã cao, lời nói không rõ ràng, Triều Thố nghe không hiểu. Phục Sinh nói với con gái rồi bảo con nói lại cho Triều Thố nghe. Mặc dù như thế, Phục Sinh là người nước Tề, mà Triều Thố là người đất Dĩnh Xuyên, phương ngôn hai vùng khác nhau tương đối lớn, nên điều mà Thố không biết có đến 12, 13 phần, nên chỉ lược lấy những ý đọc được mà thôi. Như thế văn bản Thượng Thư của Phục Sinh mà Triều Thố ghi lại cũng không phải là bản Thượng Thư hoàn chỉnh và hoàn toàn đúng với nguyên bản.
2. Hà Gian Hiến Vương bản
Sở dĩ gọi là Hà Gian Hiến Vương bản vì bản này được ghi nhận là của Hà Gian Hiến Vương Lưu Đức.
Hà Gian Hiến Vương tên thật là Lưu Đức là một trong 14 người con của Hán Cảnh Đế, trừ Hán Vũ Đế Lưu Triệt kế thừa ngôi vị thì 13 người con đều được phong làm vương, trong Hán Thư gọi là “Cảnh 13 Vương”. Lưu Đức được phong đất ở Hàn Gian, ban tước hiệu là Vương, sau khi mất được đặt thụy hiệu là Hiến nên gọi là Hà Gian Hiến Vương Lưu Đức. Ông là người coi trong học thuật, có một số lượng lớn tân khách, lại có sở thích sưu tầm cổ thư nên có môt số lượng lớn sách cổ, Tư Mã Thiên và Ban Cố rất đề cao[4].
Về lai lịch của Hà Gian Hiến Vương bản, sử ghi lại rằng vào thời Vũ Đế, Hà Gian Hiến Vương Lưu Đức từ trong dân gian ông có được một tàn bản cổ văn Thượng Thư dùng văn tự cổ thời Tiên Tần. Hán Thư – Cảnh thập tam vương truyện ghi: “Sách mà Hiến Vương có được đều là sách cũ của cổ văn thời Tiên Tần. “Chu quan”, “Thượng thư”, “Lễ”, “Lễ Ký”, “Mạnh Tử”, “Lão tử” đều là kinh truyện thuyết kí, là luận bàn của 70 học trò.”
Về thiên mục của văn bản, vì Hà Gian Hiến Vương coi bộ tàn bản cổ văn Thượng Thư may mắn tránh được nạn đốt sách của nhà Tần như vật báu nên giữ bí mật không chỉ cho mọi người nên ảnh hưởng của bộ sách này đến xã hội đương thời và giới học thuật đều không lớn. Bởi thế bản cổ văn Thượng Thư của Hà Gian Hiến Vương tổng cộng có bao nhiêu thiên, là những thiên nào, văn bản chép tay này với các bản chép tay cổ văn Thượng Thư khác có mối quan hệ gì thì hiện nay cũng không được khảo chứng. Nhưng ngờ rằng bản này là một bản khuyết thiếu và có thể là tân bản.
3. Khổng bích bản
– Sở dĩ gọi là Khổng bích bản vì bản này được Lỗ Cung Vương Lưu Dư tìm ra trong vách nhà cũ của Khổng Tử.
Lỗ Cung Vương Lưu Dư cũng là một trong 13 người con của Hán Cảnh Đế. Căn cứ vào ghi chép trong Hán Thư – Cảnh thập tam vương truyện thì Lỗ Cung Vương Lưu Dư thích xây dựng nhà cửa; rượu chè săn bắn. Một lần ông muốn phá nhà cũ của Khổng Tử đế xây dựng nhà cửa, vô tình phát hiện ra bản Thượng Thư trong vách nhà họ Khổng[5].
Chữ viết trong bản Khổng bích cổ văn Thượng Thư là dùng chữ khoa đẩu[6] văn để sao chép. Chữ khoa đẩu chính là văn tự cổ thời Tiên Tần, có một sự khác biệt lớn so với chữ Lệ đang thông hành đời Hán, từ khi nhà Tần thống nhất sáu nước đến cuối thời Hán Vũ Đế đã trải qua hơn 130 năm lịch sử. Lúc Khổng bích bản được phát hiện, đã rất ít người biết chữ này. Theo trong Hán Thư – Nghệ Văn Chí thì : “Khổng An Quốc là hậu duệ của Khổng Tử, có được sách này, khảo xét thấy có 29 thiên trùng với Kinh văn, và nhiều hơn 16 thiên. An Quốc dâng cho triều đình, gặp nạn Vu Cổ, chưa được lập ở quan học.”
Như vậy Khổng bích bản gồm có 29 thiên giống với Kim văn và thừa ra 16 thiên; 16 thiên này viết bằng chữ khoa đẩu, khó đọc nên Khổng An Quốc bó lại cất đi, gọi là Dật thư. Còn 29 thiên kia ông chuyển sang chữ lệ để lưu hành (Lệ cổ định) và ông còn viết truyện ở dạng cổ văn để dâng lên nhà vua. Nhưng lúc đó có nạn vu cổ, triều đình lục đục, nên văn bản chỉ được truyền trong dân gian.
Khổng bích bản bao gồm 29 thiên trong Kim Văn Thượng Thư, ngoài ra so với Kim Văn Thượng Thư thì nhiều hơn 16 thiên. 16 thiên đó là:
“Ngu hạ thư” 7 thiên: Thuấn điển, Mịch tác, Cửu cung, Đại vũ mô, Ích tắc, Ngũ tử chi ca, Dận chinh,
“Thương thư” 6 thiên: Thang cáo, Hàm hữu nhất đức, Điển tân, Doãn huấn, Tứ mệnh, Nguyên mệnh.
“Chu thư” 3 thiên: Vũ thành, Lữ ngao, Đồng mệnh.
Về sự tồn tại của văn bản, có mốt số người cho rằng Khổng bích bản chính là Khổng thị bản. Vì theo ghi chép của Hán thư nghệ văn chí ghi lại thì vào năm mà Khổng bích bản được phát hiện hiện, thì “Khổng An Quốc là hậu duệ của Khổng tử, nhanh chóng có được sách này”. Có nghĩa Khổng An Quốc đã kiểm định Khổng bích bản như đã nói ở trên. Nhưng căn cứ vào ghi chép của Sử kí” Khổng Tử thế gia thì Khổng An Quốc là hậu duệ 20 đời của Khổng Tử. Khổng An Quốc giữ chức bác sĩ lúc bấy giờ, đến Lâm Truy giữ chức thái thú, mất sớm. Theo các học giả khảo chứng, Khổng An Quốc có lẽ chết ở khoảng những năm đầu thời Hán Vũ Đế, mà Khổng bích bản lại được phát hiện cuối thời Hán Vũ Đế, lúc đó Khổng An Quốc đã chết, tại sao lại có thể “Có được sách này” “, lại tại sao có thể “ khảo 29 thiên “. Có thể thấy ở trong Hán thư nghệ văn chí, việc này chưa chắc đã tin được. Một số học giả căn cứ vào đây lại thêm việc Sứ kí không có sự ghi chép về Khổng bích bản rút ra kết luận Khổng bích bản cũng là Khổng thị bản.
Điều này cũng không hoàn toàn hợp lí vì việc Sứ kí không ghi lại việc phát hiện Khổng bích bản có thể giải thích như sau: trong “Thái sử công tự tự” Tư Mã Thiên viết: “Ta thuật lại từ Hoàng Đế đến nay cho đến hết Thái Sơ, tổng 310 thiên.” Hán Vũ Đế ở ngôi 54 năm, tổng cộng dùng 12 niên hiệu, Thái Sơ là niên hiệu thứ 7 của Hán Vũ Đế, niên đại của Sử kí làm từ năm 104- 101 Tr.CN. Khổng bích bản phát hiện ở cuối đời Hán Vũ Đế, ước đoán sau thời Thiên Hán năm 100 TCN- 97 TCN, cho nên Tư Mã Thiên trong Sử Ký không ghi chép rõ sự việc ấy.
Hơn nữa liên quan đến Khổng Bích Cổ Văn Thượng Thư và Khổng Bích đồ thư, ngoài thiên “Nghệ văn chí” và “Cảnh thập tam vương truyện” trong Hán thư ra, những văn hiến thời Lưỡng Hán và Ngụy Tần ghi chép rất nhiều, như tác phẩm “Di nhượng thái thường bác sĩ thư” của Lưu Hâm, thiên “Luận hành – Chính thuyết” và thiên “Dật văn” của Vương Sung, “Tiền Hán kỷ – Thành Đế kỉ” của Tuân Duyệt, “Thuyết văn giải tự tự” của Hứa Thận , “ Hậu Hán kỉ – Chương đế kỉ” của Viên Hoằng, “Ngụy thư – Lưu Thiệu truyện” của Ngụy Thu… Nhưng ghi chép của các nhà về mặt chi tiết đều có nhiều sai khác.
Ở trong bức vách cũ nhà Khổng Tử phát hiện ra một số lượng lớn Kinh truyện cổ văn, đó là sự kiện lớn của thời kì đó, có ảnh hưởng rộng, nhưng cùng với thời gian, tư liệu ghi chép sự việc ấy ngày càng nhiều lên. Càng về sau này ghi chép về cùng một sự kiện càng khác nhau, tình trạng như vậy trong lịch sử cũng thường thấy. Vì thế, liên quan đến thời gian phát hiện ra Khổng bích bản, các loại văn hiến phát hiện trong bức tường, cụ thể số thiên của các loại văn hiến, ghi chép của các nhà có một chút sai lệch, đó là điều khó tránh khỏi. Nếu chỉ dựa vào sự không hợp lí trong ghi chép của Hán thư mà phủ nhận sự tồn tại của Khổng bích bản là có phần không hợp lí. Từ đó suy ra Khổng bích bản và Khổng thị bản là hai văn bản khác nhau.
4. Khổng thị bản
Sở dĩ gọi là Khổng Thị bản tức Tàng bản nhà học Khổng là vì đây bản chép tay cổ văn thượng thư được hậu duệ Khổng tử là Khổng An Quốc cất giữ .
Về số thiên mục của cuốn sách Sử kí – Nho lâm truyện nói : Nhà họ Khổng có cổ văn thượng thư, mà An Quốc dùng kim văn để đọc. Ông lấy sách cổ trong nhà mình ra so với kim văn thì thấy Dật thư dư ra hơn chục thiên, có lẽ Thượng Thư nhiều lên từ đó. Như vậy Khổng thị bản có 29 thiên trùng với kim văn và hơn 10 thiên dư ra.
Về sự tồn tại của văn bản, Sử kí ghi lại Khổng thị bản đáng tin cậy vì Tư Mã Thiên từng theo học Khổng An Quốc, nên cổ văn Thượng Thư trong nhà Khổng An Quốc rất có thể Tư Mã Thiên đã nhìn qua. Cho dù là chưa nhìn qua, nhà Khổng An quốc là không có cổ văn thượng thư thì một việc trọng đại như thế, Tư Mã Thiên không thể không biết rõ. Căn cứ vào những suy đoán trên, tàng bản trong nhà họ Khổng rất có thể là bản chép tay thượng thư mà các ông tổ đời trước nhà họ Khổng truyền lại cho con cháu đời sau. Khổng An Quốc đối với tàng bản trong nhà đã lấy “ kim văn để đọc nó”, giải thích các hàm ý trong tàng bản nhà họ khổng, còn có cả các thiên kim văn thượng thư mà Phụng sinh truyền thụ. Còn về sự khác biệt trên các phương diện nội dung, thiên mục trong tàng bản nhà họ Khổng so với các bản chép tay khác, chúng ta khó biết được rõ ràng.
5. Trung bí bản
Sở dĩ gọi là Trung bí bản hay Trung cổ văn bản vì đây là bản chép tay cổ văn Thượng Thư được bí mật cất giữ trong thư viện hoàng gia. Chữ “Trung” là chỉ bên trong nội cung của hoàng thượng. Trong sách “HánThư – Nho lâm truyện”, Nhan Sư Cổ chú rằng: “Trung thư, thiên tử, sở tàng chi thư dã” (trung thư chính là nơi cất giữ sách của Thiên tử). Bản chép tay Thượng thư được lưu giữ trong thư viện hoàng gia đời Hán tất nhiên là không chỉ có cổ văn Thượng Thư mà có cả các văn bản của Kim văn thượng thư. Nhưng Trung bí bản hay Trung cổ văn bản mà chúng ta nói ở đây chỉ riêng bản chép tay cổ văn Thượng Thư của thư viện hoàng gia.
Sách “Hán thư – Nghệ văn chí” nói về sự tồn tại của Trung bí bản: “Lưu Hướng lấy trung cổ văn so sánh với kinh văn của ba nhà là Âu Dương, Đại Hạ Hầu và Tiểu Hạ Hậu.” Lưu Hướng, Lưu Hâm nối tiếp nhau làm quản lí kho sách bí mật của hoàng cung trong các năm cuối thời Tây Hán, thường dùng Trung bí bản hiệu đính các sách khác, qua sự hiệu đính của Lưu Hướng mới phát hiện sự mất mát thẻ tre của ba nhà Kim văn Thượng Thư và sự khác biệt về văn tự của cổ văn Thượng Thư.
Về thiên mục của Trung bí bản sách “Hán thư – Nghệ văn chí” ghi chép như sau: “Lưu Hướng lấy trung cổ văn so sánh với kinh văn của ba nhà là Âu Dương, Đại Hạ Hầu và Tiểu Hạ Hậu, thầy thiên “Tửu Cáo” thiếu mất một thẻ, “Thiệu Cáo” thiếu mất 2 thẻ. Nếu mỗi thẻ mất 25 chữ, mất đi 25 chữ, thẻ 22 chữ thì cũng mất đi 22 chữ, số chữ khác là hơn 700 chữ, chữ mất có vài chục. “Thư” là hiệu lệnh của thời xưa, ra lệnh cho chúng dân, mà lời nói không đầy đủ, thì người nghe lệnh thi hành sẽ không rõ ràng. Cổ văn đọc ứng với “Nhĩ Nhã”, cho nên có thể hiểu được lời nói của xưa nay nên có thể biết được.”
Ngoài sự chênh lệch 700 chữ, khuyết thiếu mất một số thẻ tre, thì bản cổ văn tách 29 thiên thành 34 thiên, và 16 thiên dật thư phân thành 24 thiên nên tổng có 58 thiên.
Xét đến diện mục của văn bản thì mặc dù không chỉ Hán thư – Nghệ văn chí mà cả “Hán thư – Nho lâm truyện” từng ghi chép việc dùng sách trong thư viện bí mật của hoàng cung để hiệu đính “102 thiên” mà Trương Bá dâng lên; nhưng rút cuộc là bản cổ văn Thượng Thư trong trung bí bản đến từ nơi nào, lịch sử ghi chép không rõ ràng, có người cho rằng bản Trung Bí bản và Khổng Bích bản có liên quan đến nhau. Rất có thể là sau khi Khổng Bích bản phát hiện, người nhà họ Khổng dâng cho triều đình hay sao một bản phụ dâng lên triều đình. Cũng có người cho rằng là do dân gian dâng tặng, Hán thư – nghệ văn chí” từng ghi: “Qua thời Hán Vũ Đế, sách khuyết thẻ tre bị mất, lễ suy đồi, nhạc băng hoại, thánh thượng xót xa mà nói: Trẫm thật lo lắng thay”, thế là dựng lên nhà sách tàng thư, xếp đặt quan chép sách, ra chiếu là từ các chư tử truyền thuyết, đều cho vào mật phủ”. Đến đời Hán Vũ Đế, đã xuất hiện mấy Thượng Thư không giống nhau, vì thế thư viện hoàng gia cất giữu bí bản cổ văn Thượng Thư là rất bình thường.
6. Trương Bá bản.
Sở dĩ gọi là Trương Bá bản (hay còn gọi là Bách Lưỡng Thiên (102 thiên)) vì đây là bản do Trương Bá dâng lên triều đình. Vào thời Hán Thành Đế, trọng thưởng cho dân chúng dâng nộp cổ thư, đồng thời triệu hội những người trong thiên hạ có thể giảng giải được Thượng Thư. Trương Bá ở Đông Lai đã dâng nộp ra một bộ Thượng Thư, bộ Thượng Thư ấy bao gồm Thư tự với tổng cộng bao gồm là 102 thiên, cho nên gọi là Bách lưỡng thiên. Trương Bá còn nói rằng có thể giảng giải Thượng Thư , thế là bản thân Trương Bá cũng được mời gọi vào triều đình. Trong sách “Hán Thư – Nho Lâm truyện” ghi: Bách lưỡng thiên mà người đời truyền, bắt đầu từ Trương Bá ở Đông Lai, phân chia tách hợp 29 thiên làm ra mấy chục thiên, lại lấy ở “ Tả thị Truyện, Thư tự” làm đầu cuối, tất thảy là 102 thiên…
Văn bản này có 102 thiên, về con số 102 thiên có thể là Trương Bá dựa vào ghi chép trong Vĩ thư nói là Khổng Tử nhận được từ Huyền Tôn Hoàng Đế là Đế Khôi một bộ Kinh Thư 3240 thiên, sau đó san định thành 120 thiên trong đó có 102 thiên Thượng Thư và 18 thiên Trung Hầu. Tuy rằng con số 3240 là khó tin nhưng con số 102 thiên Thượng Thư là có thể.
Về vấn đề chân ngụy, sau khi Trương Bá dâng 102 thiên Thượng Thư Hán Thành Đế liền đưa cho Lưu Hướng – người quản lí trung bí đồ thư (thư viện bí mật của hoàng cung) để giám định. Lưu Hướng làm quản lí Trung bí đồ thư đã nhiều năm, có thể nói là chuyên gia có uy quyền về giám định cổ thư đương thời. Ông cẩn thận đối chiếu bản Bách lưỡng thiên mà Trương Bá dâng lên với bản Trung Bí đồ thư, tính giả mạo của văn bản Bách lưỡng thiên nhanh chóng bị phát hiện[7]. Trương Bá vì thế bị bỏ vào ngục vì tội lừa vua và đại bất kính, suýt chút nữa bị mất mạng.
Hóa ra Trương Bá chia tách rồi hợp lại 29 thiên của Thượng Thư làm thành mấy chục thiên, lại lấy thêm các đoạn trong “Tả truyện” để làm thành sách, dựa vào những truyền thuyết trước đây để làm thành 102 thiên . Hành vi làm giả vốn không thể tha thứ, nhưng vì Hán Thành Đế thương tiếc cho tài hoa của Trương Bá, tha cho Trương Bá tội chết, lại thấy rằng Bách lưỡng thiên tuy là sách ngụy tácn nhưng vẫn có giá trị bảo lưu cho nên mới không thiêu hủy.[8] Vương Sung trong thiên Luận hành – Cảm Loại từng dẫn dụng nguyên văn 120 thiên của Trương Bá, chứng minh thời Đông Hán Bách lưỡng thiên của Trương Bá vẫn còn.
7. Đỗ Lâm bản
Đỗ Lâm bản hay còn gọi là Tất thư, đây là văn bản bằng thẻ tre viết bằng sơn được Đỗ Lâm phát hiện và dâng lên triều đình.
Đỗ Lâm tên tự là Bá Sơn, người Mậu Long, Phù Phong, là danh sĩ thời Đông Hán, thời Quang Vũ Đế từng làm chức Quang Lộc Huân, Đông Hải Vương Phó, làm quan đến chức Đại tư không. Đỗ Lâm xuất thân trong một gia đình quan học và rất có danh tiếng[9]. Đỗ Lâm rất thích cổ văn, từng tại Tây Châu có được một bản cổ văn Thượng Thư, cho là vật báu bất li thân. Đương thời việc này có rất nhiều ảnh hưởng, nhưng nội dung và số thiên chương của văn bản này thì không được ghi lại.
Những người học trước thường lấy tác phẩm Thượng thư cổ văn tất thư mà Đỗ Lâm tìm được và tác phẩm Cổ Văn Thượng thư mà ông truyền lại nói nhập làm một[10]. Kỳ thực, tuy rằng, Đỗ Lâm vô cùng yêu thích tác phẩm Thượng thư cổ văn tất thư mà ông tìm được, nhưng cái mà ông truyền thụ lại chủ yếu là 29 thiên trong Thượng thư cổ văn có sự tương đồng với số thiên trong Thượng thư kim văn. Trong quá trình truyền thụ, Đỗ Lâm rất có thể đã tiến hành so sánh, san định lại phần nội dung giống nhau giữa bản tất thư mà ông tìm được và 29 thiên Thượng thư cổ văn. Đỗ Lâm truyền thụ Thượng thư cổ văn cho những người như Trịnh Hưng, Vệ Hoành … nên sau mới có “Giả Quỳ viết huấn, Mã Dung viết truyện, Trịnh Huyền chú giải”, 29 thiên Thượng thư cổ văn “do đó mà nổi tiếng trên đời”.[11]
Cũng có thể nói, bản Tất thư mà Đỗ Lâm có được rất có thể chỉ là một thiên hoặc vài thiên trong 29 thiên Thượng thư cổ văn mà Giả Quỳ viết huấn, Mã Dung viết truyện, Trịnh Huyền chú giải.
8. Lưu Đào bản:
Lưu Đào bản còn được gọi là Thượng thư trung văn, là bản văn bản Thượng Thư của Lưu Đào[12]. Lưu Đào thời Hán Linh Đế đã từng được phong chức ngự sử, phong chức hầu ở Trung Lăng, sau được chuyển về kinh giữ chức Triệu Doãn, Gián nghị đại phu nên được nhìn thấy bản Trung Bí. Ông đã so sánh, đối chiếu Thượng thư trung cổ văn với Thượng thư kim văn của ba nhà (Âu Dương, Đại – Tiểu Hạ Hầu), sắp xếp, tổng hợp sự nổi trội của ba bản trung cổ kim văn, sao chép định bản, cho nên gọi là Thượng thư trung văn.[13] Chữ “trung” trong Thượng Thư trung văn bao hàm hai tầng ý nghĩa. Thứ nhất, là “trung” trong từ “trung bí”. Thứ hai, “trung” trong từ “triết trung”.
Lưu Đào là học giả uyên thâm hiểu biết sâu rộng[14], là nhân vật có cống hiến đối với nền học thuật Trung Quốc cuối thời Đông Hán. Nhưng tiếc là rất nhiều các tác phẩm của ông, bao gồm cả bản Thượng Thư trung văn do ông chỉnh lí đều không được lưu truyền lại.
9. Văn bản Khổng truyện cổ văn Thượng thư
Khổng truyện cổ văn Thượng Thư là bản cổ văn Thượng Thư mà Mai Trách – làm Dự chương nội sử thời Đông Tấn dâng lên Tấn Nguyên Đế, nên còn gọi là Mai Trách bản. Bản này có bài tựa đầu sách đề là của Khổng An Quốc và Khổng An Quốc đã làm chú cho cuốn sách này, vì thế nên gọi là Khổng truyện cổ văn Thượng Thư
Về thiên chương, cuốn Khổng truyện cổ văn Thượng Thư so với các bản cổ văn Thượng Thư lưu hành ở thời Lưỡng Hán có chỗ không giống nhau. Nó bao gồm 28 thiên Kim văn thượng thư, ngoài ra còn có 25 thiên cổ văn thượng thư. Dưới đây là mục lục 25 thiên:
- Đại vũ mô
- Ngũ tử chi ca
- Dận Chinh
- Trọng Hủy chi cáo
- Dương Cáo
- Y Huấn
- Ba thiên Thái Giáp
- Hàm Hữu nhất đức
- Ba thiên Thuyết Mệnh
- Ba thiên Thái thệ
- Vũ thành
- Lữ Ngao
- Vi tử chi mệnh
- Tế trọng chi mệnh
- Chu Quan
- Quân Trần
- Tất mệnh
- Quân Nha
- Đồng Mệnh
Trong đó, mặc dù tên thiên Thiên Thái giống với tên thiên mà Nữ Tử ở Hà Nội dâng cho triều đình thời Hán Văn Đế, nhưng nội dung thì hoàn toàn khác nhau. Ngoài những chỗ bản kim văn thượng thư thì thiên Nghiêu Điển tách thành hai thiên Nghiêu Điển và Thuấn Điển, thiên Cao Dao Mô lại phân thêm thiên Ích Tắc, chia thiên Bàn Canh làm ba thiên; thiên Cố mệnh lại tách thêm thành thiên Khang Vương Chi Cáo. Như vậy, bản kim văn Thượng Thư vốn có 28 thiên biến thành 33 thiên, cùng với 25 thiên trong bản cổ văn thượng thư thì có 58 thiên.
Mặc dù bản của Mai Trách là một bản khá đầy đủ, có cả phần tựa của Khổng An Quốc và phần Đại tự nhưng lại không rõ về nguồn gốc, tính chất ngụy tác của nó rất cao nhưng vì khá đầy đủ và văn phong đồng nhất nên vất được tin dùng và xác lập ở vị trí quan học[15].
Theo những ghi chép trong lịch sử thì văn bản Thượng Thư rất nhiều với 9 bản tiêu biểu nhưng Kim văn Thượng thư mất trong loạn Vĩnh Gia những năm cuối thời Tây Tấn, sau khi hoàn thành “Ngũ kinh chính nghĩa” đời Đường, các loại văn bản cổ văn thượng thư khác ngoài văn bản Khổng truyện cổ văn Thượng thư cũng đều tiếp nhau thất truyền, chỉ có Khổng truyện cổ văn Thượng thư còn truyền đến ngày nay.
II. Kim văn Thượng thư và Cổ văn Thượng thư
2.1. Sự hình thành Kim văn và Cổ văn Thượng thư
- Kim văn Thượng Thư:
Kim văn là chỉ văn tự hiện đại, loại văn tự được viết theo lối mới tức là lối chữ Lệ thông dụng thời Hán. Người mở đầu cho Kim văn Thượng thư là Phục Thắng đời Hán Văn Đế. Sau Triều Thố đến ghi lại văn bản Thượng Thư của Phục Sinh được 28 thiên, sau đó thêm một thiên Thái Thệ mà nữ tử ở Hà Nội dâng tặng, tổng cộng là 29 thiên. 29 thiên thượng thư này dùng chữ lệ được thông dụng ở đời hán để sao chép, cho nên gọi là Kim văn Thượng Thư .
Đặc điểm của kim văn Thượng Thư là coi Khổng Tử là một chính trị gia, người ta đi sâu vào giải thích “Vi ngôn đại nghĩa” của kinh điển. Nhìn chung kim văn kinh học có mối quan hệ rất lớn đến chính trị, nhưng lại đi sâu vào giải thích cái cao viễn nhiều khi đi quá xa thực tế, vì thế mà càng về sau kim văn kinh học ngày càng sa sút.
Kim văn Thượng Thư do Phục Sinh truyền thụ trong suốt thời Hán được xác lập trong quan học, lưu truyền trong trường học, ảnh hưởng cực lớn. Sau Phục Sinh, các nhà kim văn học đời Hán phân thành 3 phái lớn, đó là học phái Âu Dương thị lấy Âu Dương Cao làm đầu, học phái Đại Hạ Hầu lấy Hạ hầu thắng làm đầu, học phái Tiểu hạ hầu lấy Hạ hầu kiến làm đầu. Học gia ba học phái này, các đời thay nhau làm chức bác sĩ, luôn ở địa vị cao[16]. Sách Hán thư – Nghệ Văn Chí ghi chép về ba học phái này đều có những giải thích về các chương của mình, như: Âu Dương Chương cú, Âu Dương thuyết nghĩa, Đại Hạ Hầu chương cú, Đại Hạ Hầu giải cố, Tiểu Hạ Hầu chương cú, Tiểu Hạ Hầu giải cố v.v…
2. Cổ văn Thượng Thư
Cổ văn những cách viết bằng lối Đại triện thời Tiên Tần. Hệ thống văn bản của cổ văn Thượng Thư tương đối phức tạp và có khá nhiều văn bản.Văn bản cổ văn Thượng Thư không thuần nhất vì được thu thập trong dân gian và có nhiều yếu tố mập mờ không rõ ràng. Cổ văn Thượng Thư có các văn bản sau: Văn bản của Hà Gian Hiến Vương, Khổng Bích bản (Bản trong vách tường nhà họ Khổng), Khổng thị gia tàng bản, Trung cổ văn bản, Đỗ Lâm bản lai lịch thiên mục của mỗi văn bản đều có sự khác biệt.
Đặc điểm cổ văn Thượng Thư nói riêng và cổ văn kinh học nóichung là tập trung vào học vấn, cổ văn được truyền thụ với tư cách là phái học thuật, coi Khổng Tử như một nhà chỉnh lí văn hiến. Cái mà cổ văn kinh học muốn hướng tới là “danh huấn hỗ” tức là đi sâu vào giải thích, nghiên cứu từ ngữ, làm cho người ta học hiểu sâu sắc chân thực các tư liệu cổ đó. Tuy rằng khác hẳn với cái học nghĩa lí mà kim văn theo đuổi nhưng tầm ảnh hưởng cũng rất lớn. Tuy nhiên cổ văn kinh học có nhược điểm là chi li, phức tạp vì quá đi sâu vào giải thích câu chữ của văn bản.
Văn bản Văn bản của Hà Gian Hiến Vương là văn bản cổ văn Thượng Thư đầu tiên, nhưng vì bản này không có mấy ảnh hưởng. Người được coi là ông tổ của cổ văn Thượng Thư là Khổng An Quốc. Thời Tây Hán kinh học cổ văn chưa từng xác lập vị trí quan học, bác sĩ thời Bác Sĩ đều là bác sĩ kim văn. Khổng An Quốc cũng như mọi người không hiểu cổ văn, ông nhậm chức bác sĩ lúc đó là bác sĩ kim văn Thượng Thư . Sử kí – Nho lâm truyện viết: “ An Quốc dùng kim văn đọc nó”, lời tựa Khổng truyện cổ văn Thượng Thư có nói : Sách khoa đẩu phát hiện đã lâu, người đương thời không ai biết được, lấy sách nghe được từ Phục Sinh, khảo luận văn nghĩa, định lấy cái đã biết, dùng chữ Lệ để viết lại, rồi viết lên thẻ tre.” Có lẽ rằng, khi mới xuất hiện cổ văn Thượng thư, văn bản so với bản truyền của Phục Sinh có sự khác nhau, mà Thượng Thư không có chương cú huấn hỗ, An Quốc lấy kim văn định chương cú cho nó, ấy gọi là” dùng kim văn mà đọc cổ văn”. Nên nếu như không có bản của Phục sinh để đối chiếu, 29 thiên giống nhau giữa tàng bản trong nhà họ khổng và bản của Phục sinh, Khổng An Quốc không có cách nào đọc hiểu nó. Khổng thị định bản đồng thời dùng kim văn để giảng giải bản cổ văn phát hiện trong nhà họ Khổng, từ đó mới có các nhà cổ văn.
Cuối đời Hán có một số nhân vật lớn ở phái cổ văn Thượng Thư như Giả Quỳ làm huấn, Mã Dung là truyện, Trịnh Huyền làm chú cho cổ văn Thượng Thư. Chính vì thế mà cổ văn Thượng Thư trở thành một cái học rất rộng. Cổ văn Thượng Thư càng về sau càng khẳng định được vị trí của mình và vượt hơn hẳn Kim văn Thượng Thư.
2. 2. Sự tranh biện giữa các nhà kim văn Thượng Thư và cổ văn Thượng Thư
Về văn bản, thì kim văn Thượng Thư và cổ văn Thượng Thư không có nhiều khác biệt nhưng các nhà kinh học giải thích kim văn, cổ văn theo các hướng khác nhau như thế nên hình thành nên các học phái đối nghịch nhau. Thực chất của sự tranh biện giữa các nhà kim văn Thượng Thư và cổ văn Thượng Thư trong lịch sử Thượng Thư kinh học chính là để xác định học phái nào vào vị trí quan học.
Thời Tây Hán kim văn Thượng Thư chiếm ưu thế tuyệt đối. Hán Vũ Đế lập Ngũ kinh bác sĩ đã lựa cho Âu Dương Cao là bác sĩ Thượng Thư, đến thời Hán Tuyên Đế sau hội nghị kinh học ở Gác Thạch Cừ đã đưa thêm Đại Hạ hầu và Tiểu Hạ Hầu là bác sĩ Thượng Thư. Như thế kim văn Thượng Thư được xác lập ở vị trí quan học và văn bản kim văn Thượng Thư được lựa chọn khắc in trong “Hi Bình thạch kinh” để khẳng định tính chính thống được, nhà nước công nhận. Nhìn chung kim văn Thượng Thư truyền từ Phục Sinh cho đến Âu Dương Hấp, tám đời liên tục được lập làm Bác sĩ. Văn bản của Cổ văn Thượng Thư tuy nhiều, nhưng ở thời Tây Hán đều chưa được xác lập vị trí quan học.
Người đầu tiên tranh nghị lập cổ văn kinh ở vị trí quan học là Lưu Hấp, thời Hán Ai Đế cuối Tây Hán. Lưu Hâm yêu thích cổ văn muốn đem các bản cổ văn như: Thượng thư, Xuân thu tả thi truyện, Dật lễ, Mao thi… xác lập ở vị trí quan học, nhưng vấp phải sự phản đối kịch liệt của các Thái thường bác sĩ. “Hán thư – Sở nguyên vương truyện” nói: Lưu Hâm tự là Tử Tuấn thuở nhỏ đã am hiểu Thi, Thư, có thể đọc thuộc văn, được triệu vào để gặp Hán Thành đế.[…] Trong những năm Hà Bình, nhận chiếu cùng với cha trông coi Bí thư, giảng giải lục nghệ truyện kí, Chư tử, Thi phú, Sổ thuật, Phương chi, không có gì là không nghiên cứu…[…] Hâm muốn lập “Tả Thị học. Ai đế lệnh cho Hâm cùng với ngũ kinh bác sĩ giảng luận về nghĩa lý, các bác sĩ có người không dám nói thẳng, nên Hâm viết thư gửi cho Thái thường bác sĩ.
Những lời lẽ dứt khoát thẳng thắn của Lưu Hâm trong “Di nhượng thái thường bác sĩ thư” đã khiến các quan đại thần trong triều đình nổi giận, đồng thời cũng gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của các vị thái thường bác sĩ đó. Từ sau khi nhà Tây Hán đặt ra ngũ kinh bác sĩ, cho mãi đến thời kì Hán Ai Đế, đứng ở vị trí quan học luôn luôn là kim văn kinh học. Đa số các đại thần có quyền lực lớn trong triều đình đều xuất thân từ đệ tử bác sĩ Kim văn kinh học. Những vị thái thường bác sĩ này lo lắng sau khi cổ văn kinh học được lập ở học quan thì bản thân mình sẽ bị mất đi việc làm, nên họ liều mạng phản đối chủ trương của Lưu Hâm, lại liên kết với các vị đại thần, công kích và phỉ báng Lưu Hâm, cho rằng ông ta “cải loạn cựu chương, phi hủy tiên đế chi vị” (làm loạn chương sách cũ, không bỏ đi những điều tiên đế lập ra). Lưu Hâm thế cô lực mỏng, sợ rằng sẽ mắc tội mà bị giết, chỉ còn cách xin đựợc rời xa kinh thành, đến nhậm chức tại địa phương. Ai Đế thông cảm với Lưu Hâm, đành ân chuẩn cho ông ta đi làm quan địa phương. Đây là một lần mà việc tranh nghị lập cổ văn kinh ở vị trí quan học kết thúc bằng sự thất bại của Lưu Hâm. Lưu Hâm buộc phải rời khỏi kinh thành, lần lượt giữ chức thái thú của ba quận là Hà Nội, Ngũ Nguyên và Trác Quận, về sau do bị bệnh mà được miễn quan.
Lưu Hâm thuở nhỏ cùng với Vương Mãng làm hoàng môn lang, là bạn thân của Vương Mãng. Sau khi Ai Đế mất, Bình Đế lên ngôi. Thời gian Bình Đế ở ngôi chỉ vẻn vẹn có 9 năm. “Thái hoàng thái hậu lâm triều, Đại tư mã Vương Mãng nắm quyền, các quan nghe theo lệnh của Mãng”. Nhờ vậy mà Lưu Hâm mới được quay trở lại kinh thành. Vương Mãng cũng yêu thích cổ văn, tán đồng chủ trương lập cổ văn Thượng Thư ở vị trí quan học của Lưu Hâm. Do có được sự ủng hộ của Vương Mãng, chủ trương của Lưu Hâm cuối cùng cũng được thực hiện. Cho nên trong “Hán thư – Nho lâm truyện tán” có nói: “Thời Bình Đế, lại lập Tả Thị Xuân thu, Mao thi, Dật lễ, Cổ văn Thượng Thư; vì vậy rất nhiều những thứ bị thất tán đều đựơc bảo tồn” Tuy nhiên thời gian mà cổ văn kinh đựơc lập xác lập ví trí quan học không được bao lâu, cùng với việc chính quyền Vương Mãng bị tiêu diệt thì việc lập cổ văn kinh ở vị trí quan học cũng nhanh chóng bị phế bỏ”.
Sau khi chính quyền Đông Hán được thành lập, kim văn kinh học và cổ văn kinh học đã lần lượt tiến hành không ít lần tranh cãi, tuy nhiên được lập ở quan học chủ yếu vẫn là kim văn Thượng Thư .
Cổ văn kinh học tuy rằng không được lập ở quan học, nhưng qua nhiều lần đọ sức đua tài cùng kim văn kinh học, cũng đã dần dần giành thắng lợi trong việc chiếm được sự tin phục của kẻ sĩ. Cổ văn kinh đã bén rễ sâu trong dân gian. “Hậu Hán thư – Trịnh Huyền truyện” viết:
Lúc đó Nhậm Thành Hà Hưu yêu thích cái học “Công Dương” bèn viết ra các sách “Công Dương mặc thủ”, “Tả Thị cao hoang”, “Cốc Lương phế tật”; Huyền bèn viết “Phế mặc thủ”, “Châm cao hoang”, “Khởi phế tật”. Hưu (Hà Hưu) thấy đó mà than rằng: “Khang Thành vào nhà ta, cầm giáo của ta mà đâm ta ư”. Sau thời sơ, trung hưng, các vị như Phạm Thăng, Trần Nguyên, Lí Dục, Giả Quỳ tranh luận về cổ kim học, sau khi Mã Dung trả lời thái thú phương bắc là Lưu Hoàn cho đến khi Huyền đáp trả Hà Hưu, nghĩa cứ đã đầy đủ, do đó cổ học dần được sáng tỏ.
Kinh học kim văn thời này đã dần dần trở thành phương tiện để đạt được công danh lợi lộc trong con đường ra làm quan. Cái học chương cú đó rối rắm, dài dòng mà lại trống rỗng không có gì càng ngày càng bị kẻ sĩ chán ghét. Chính “con đường thủ văn vốn trì trệ thiên bẩm, các thuyết dị đoan rối ren, nổi lên đả kích lẫn nhau, lại khiến cho kinh học có mấy nhà, mỗi nhà có mấy thuyết, chương cú nhiều có đến hơn trăm vạn lời, người học vất vả mà sự nghiệp ít, người đời sau nghi ngờ mà không đoan chính”. Đặc biệt là cái học sấm vĩ mà các nhà kim văn học tôn sùng, đã gặp phải sự đả kích mạnh mẽ của các nhà cổ văn học. Sau khi các nhà kinh học nổi tiếng như Trịnh Chúng, Giả Quỳ, Mã Dung… làm chú cho kinh học cổ văn, kinh học cổ văn lại được thịnh hành trong dân gian, ảnh hưởng của nó dần dần đã vượt qua kinh học kim văn.
Ngoài việc tranh biện trực tiếp giữa các học giả kim văn, cổ văn thì vào cuối thời Đông Hán hợp lưu cổ văn kinh học và kim văn kinh học tuy đã trở thanh xu thế chú yếu. Thượng thư trung văn bản của là sản phẩm được hình thành từ xu thế hợp lưu từ bản kim cổ văn sau thời Đông Hán. Đồng thời, về mặt khách quan mà nói, nó đã thúc đẩy sự hợp lưu kim cổ văn của Thượng thư học cuối thời Đông Hán. Cổ văn kinh học tuy rằng vào thời Đông Hán chưa được lập ở vị trí quan học nhưng đã có sự ảnh hưởng lớn trong dân gian. Thực thế là rất nhiều người ban đầu học tập kim văn kinh học, về sau đều chuyển sang học tập cổ văn kinh học, chính điều đó đã tạo ra điều kiện có lợi để hợp dòng kinh học kim văn và kinh học cổ văn cuối thời Đông Hán.
Đặc biệt là Trịnh Huyền – bậc thầy kinh học cuối thời Đông Hán, đã làm nên những đóng góp quan trọng trong việc hợp dòng kinh học kim cổ văn. Trịnh Huyền tên tự là Khang Thành, có tài nghe rộng viết giỏi, đẹp cả khí tiết thanh cao và việc làm sáng suốt, viết sách đầy nhà, theo học khắp nơi. Từ thời Hán đến nay bậc thầy kinh học, dường như chưa có ai thịnh như Trịnh quân.[17]” Lúc nhỏ trịnh Huyền “tới nhà Thái học thụ nghiệp, học thầy Kinh Triệu 5năm đầu tiên, bắt đầu thông suốt Kinh Thị dịch, Công dương xuân thu, Tam thống lịch, Cửu chương toán thuật. Lại theo Trương Cung Tổ ở Đông Quận học Chu quan, Lễ kí, Tả Thị Xuân Thu, Hàn thi, cổ văn Thượng Thư.[18]
Có thể thấy, cái học của Trịnh Huyền đã có kinh học kim văn, cũng có kinh học cổ văn[19]. Trịnh Huyền sau khi học xong, lần lượt chú các kinh, đồng thời lại viết thành nhiều loại sách kinh học nổi tiếng. Sách Trịnh Huyền truyện nói rằng: “Tất cả những cái mà Huyền chú như Chu dịch, Thượng Thư , Mao thi, Nghi lễ, Lễ ký, Luận ngữ, Hiếu kinh, Thượng Thư đại truyện, Trung hầu, Càn tượng lịch, lại như các trứ tác như Thiên văn thất chính luận, Ngư lễ đế hợp nghĩa, Lục nghệ luận, Mao thi phổ, Bác Hứa Thận ngũ kinh dị nghĩa, Đáp lâm hiếu tồn Chu lễ nan tổng cộng hơn một vạn lời.
Trịnh Huyền bác bỏ quan điểm riêng của từng môn phái, coi cổ văn làm chủ, và cả thuyết coi kinh học kim văn làm hay, “thâu tóm đại điển, cắt bỏ rườm rà sằng bậy, sửa chữa thiếu sót, từ đó người học biết chỗ quy về”[20]. Trịnh Huyền dung nhập quán thông kinh học kim văn cổ văn, lại tự trở thành một nhà, trở thành tập đại thành của kinh học đời Hán. Ảnh hưởng của Trịnh Huyền trong lĩnh vực kinh học vượt xa những bậc tiền bối của ông như Đỗ Lâm, Trịnh Chúng, Giả Quỳ, Mã Dung…
Trong xu thế hợp lưu, cổ văn kinh học đã chiếm vị trí thượng phong, kim văn kinh học thì ngày càng suy yếu. Các danh gia cổ văn kinh học nối tiếp ra đời, trứ thuật ngày càng nhiều, mà kim văn kinh học thì hiếm gặp được người có thể coi là địch thủ của cổ văn kinh học, trong bối cảnh đó, ảnh hưởng của ba nhà kim văn thượng thư ngày càng suy vi.
Đến thời Tam Quốc ảnh hưởng của cổ văn kinh học vẫn rất sâu sắc,và cổ văn kinh học được xác lập ở hàng quan học ở ba nước Ngụy Thục Ngô. Lúc đầu chủ yếu cổ văn kinh học của Trịnh Huyền được lập bác sĩ. Nhưng sau đó nhà kinh học Vương Túc nổi nên nhanh chóng lấn áp Trịnh Huyền .
Vương Túc là một nhà nghiên cứu cổ văn kinh học nổi tiếng thời Tam Quốc Vương Túc là con trai của nhà kinh học nổi tiếng Vương Lang, Vương Lang đã từng theo học bậc đại sư Âu Dương học là Dương Tứ để học tập kim văn kinh học, thời Nguỵ Văn Đế[21] làm quan tới chức Tư Không rồi chuyển sang làm Tư Đồ, được phong tước Lạc Bình Hương Hầu, Nguỵ Minh Đế lên ngôi, lại thăng ông làm Lan Lăng Hầu. Vương Lang đã từng truyền các sách Chu Dịch, Xuân Thu, Hiếu Kinh, Chu Quan.
Vương Túc là người tinh thông cổ kim kinh học, thuở nhỏ đã học kim văn, sau này chuyển sang làm kinh học cổ văn[22]. Để khuếch rộng ảnh hưỏng của bản thân, ông ta tìm công kích Trịnh Huyền, cứ Trịnh Huyền dùng kim văn để chú, Vương Túc lại lấy các thuyết cổ văn của Giả Quỳ, Mã Dung thêm vào để bài bác, chống lại; cứ Trịnh Huyền dẫn cổ văn, Vương Túc lại lấy kim văn của mình để bài bác. Vương Túc lại soạn ra một bộ sách Thánh Chứng Luận để tỏ rõ bản thân, đồng thời lấy đó làm vũ khí công kích Trịnh Huyền. Thêm đó thân phận của Vương Túc là ngoại thích (ông là ông ngoại của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm), dựa vào quyền thế chính trị mà bài xích lối học họ Trịnh. Một thời, ảnh hưởng của Vương Túc nhanh chóng lan rộng. Vậy nên Trịnh học và Vương học thời Nguỵ Tấn đều ở vị trí học quan. Theo sách Tấn Thư · Tuân Tung truyện, “ thời Tây Tấn ở vị trí học quan tổng cộng có 19 Bác Sĩ, Bác sĩ Thượng Thư là bốn nhà Giả, Mã, Trịnh, Vương, tất cả truyện của họ đều là cổ văn Thượng Thư.” Từ đó, kim văn Thượng Thư có rất ít người hỏi tới .
Vào niên hiệu Chính Thủy thời Ngụy, bản cổ văn Thượng Thư của Trịnh Huyền được lựa chọn làm văn bản chính thức để khắc bia (Chính Thủy Thạch Kinh) thì vai trò của Cổ văn Thượng Thư chiếm vị trí tuyệt đối.
Thời Tấn Nguyên Đế, xuất hiện bản Khổng truyện cổ văn Thượng Thư và lưu hành càng ngày càng rộng, ảnh hưởng của nó cũng nhanh chóng vượt qua các loại văn bản Thượng Thư khác. Đến thời Đông Tấn Khổng truyện cổ văn thượng thư đã lập vị trí quan học. Tấn Thư – Tuân Tung truyện viết:
Nguyên Đế lên ngôi, tập trung quan Bộc Dạ thượng thư, sai Tung cùng với Tập Hiệp Hồng định lễ nghi trung hưng… Lúc đó mới tu sửa trường học, cắt giảm Bác sĩ, đặt mỗi loại một Bác sĩ như “Chu Dịch” là Vương thị, “Thượng thư” là Trịnh thị, Cổ văn “Thượng thư” là Khổng thị, “Mao thi” Trịnh thị, “Chu Quan”, “Lễ Kí” là Trịnh thị, “Xuân thu tả truyện” là Đỗ thị, Phục thị, “Luận ngữ”, “Hiếu kinh” là Trịnh thị, tổng có 9 người.
Với những ưu điểm của bản Khổng truyện cổ văn Thượng Thư lại được nhà nước công nhận, trong một thời gian truyền song song với bản của Trịnh Huyền và sau này lấn át Trịnh Huyền. Đến thời Nam Bắc triều lại phân thành làm cái học Bắc học và Nam học. Bắc Triều thông hành bản của Trịnh Huyền, Nam Triều lại lưu hành bản Mai Trách. Thời Nam Bắc triều Khổng truyện cổ văn thượng thư đã chiếm ưu thế tuyệt đối ở Giang Nam. Sau đó, học giả nổi tiếng trong 3 triều Trần, Tùy, Đường Lục Đức Minh trong “Kinh điển thích văn” căn cứ vào Khổng truyện cổ văn Thượng Thư tuyển thành “Thượng thư âm nghĩa”. Nhan Sư Cổ thời sơ Đường lại căn cứu vào Khổng truyện cổ văn Thượng Thư hoàn thành “Ngũ kinh định bản”. Không lâu sau, nhóm Khổng Đĩnh Đạt lại căn cứ “Ngũ kinh định bản” biên soạn “Ngũ kinh chính nghĩa”, “Thượng Thư chính nghĩa” trong đó dùng chính là bản Khổng truyện cổ văn thượng thư. Khảo thí khoa cử sau đó đều dựa theo “Ngũ kinh chính nghĩa” nên cổ văn Thượng Thư từ đó được xác lập vào vị trí quan học. Đến niên hiệu Khai Thành đời Đường Văn Tông Khổng truyện cổ văn Thượng Thư được khắc in trong hệ thống “ Khai Thành thạch kinh”.
[1] Sách Sử Ký – Khổng Tử thế gia chép: “Thời Khổng Tử, nhà Chu suy vi mà lễ nhạc bị phế, “Thi”, “Thư” đều khuyết. Tìm theo Lễ nhạc thời Tam đại, viết tự cho “Thư Truyện”, trên ghi đế thời Đường Ngu, dưới đến hết Tần Mục Công, sắp xếp mọi việc theo thứ tự… Cho nên “Thư truyện”, “Lễ Ký” tự là do họ Khổng làm ra.”
Sách Hán Thư – Nghệ Văn Chí chép: “Cho nên “Thư” là sách viết ra đã xa lắm rồi, đến khi Khổng Tử soạn lại, trước thì bắt đầu từ đế Nghiêu, sau kết thúc ở thời Tần, phàm có trăm chương, mà làm tự cho nó, để nói ý nghĩa của việc làm ra.”
Sách Tuỳ Thư – Kinh Tịch Chí cũng ghi: “Khổng Tử cẩn trọng đọc sách “Thư” của nhà Chu, có được kinh điển của bốn đời Ngu, Hạ, Thương, Chu; san định những điều thiện đẹp, trên bắt đầu từ thời Ngu, dưới kết thúc ở thời Chu, tổng cộng có hơn trăm thiên, biên soạn và làm tựa cho nó.”
[2] Loạn Vĩnh Gia: Thời Tấn Huệ Đế, triều chính hủ bại dấn tới loạn Bát Vương kéo dài 16 năm. Phương Bắc có bộ tộc Hung Nô hùng mạnh đang muốn bành trướng xuống phía Nam. Năm thứ nhất niên hiệu Vĩnh Hưng, tức năm 304, người đứng đầu bộ tộc Hung Nô là Lưu Uyên đã khởi binh ở thành Tả Quốc( nay là Ly Thạch Sơn Tây) dần dần chiếm được tất cả các châu, tự xung là Hán Vương. Năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Gia, Lưu Uyên chính thức xưng Đế. Năm sau Lưu Uyên mất, hoàng Tử Lưu Thông kế vị. Một năm sau, tức năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh Gia, Lưu Thông ra lệnh cho các tướng Thạch Lặc, Vương Di, Lưu Diệu xuất quân đánh nước Tấn, đội quân này đã đánh tan 10 vạn quân Tấn ở huyện Ninh Bình (nay là ấp Lộc – Tây Nam Hà Nam) giết Thái Úy và các vương công. Không lâu sau, đánh vào kinh thành Lạc Dương bắt được vua Hoạch Hoài, để mặc cho binh lính cướp bóc, giết hơn ba vạn vương công sĩ dân nên sử gọi đây là “ loạn Vĩnh Gia”.
[3] Sử ký -Nho lâm liệt truyện” ghi: Phục Sinh là người Tế Nam, làm quan bác sĩ thời Tần, thời Hiếu Văn đế muốn tìm người trị lý sách “Thượng thư”, thiên hạ không có, thì nghe Phục Sinh có thể trị lý bèn mời đến. Lúc đó Phục Sinh đã hơn 90 tuổi, ông đã già không thể đi lại, bèn sai quan Thái Thường cử Triều Thố đến để nhận sách. Thời Tần đốt sách, Phục Sinh cất sách trong tường. Sau đó quân đội chống Tần nổi dậy, bỏ nhà đi lưu vong. Nhà Hán thành lập, Phục Sinh tìm sách đó, mất 10 thiên, chỉ còn 29 thiên, liền lấy sách dạy ở nước Tề nước Lỗ. Người học vì thế hết thảy đều có thể nói về sách “Thượng thư”. Việc giáo dạy của các bậc đại sư ở Sơn Đông không gì không liên quan đến“Thượng thư” .
“Sử ký – Triều Thố truyện” ghi: Thời Hiếu Văn đế, thiên hạ không có người trị lý “Thượng thư”, chỉ nghe Phục Sinh người Tề Nam làm quan bác sĩ thời Tần, trị lý được sách “Thượng thư”, đã hơn 90 tuổi, già rồi nên không thể vời đến triều, bèn hạ chiếu ra lệnh cho Thái Thường cử người đến nhận sách, Thái Thường sai Thố nhận “Thượng thư” của Phục Sinh.
[4] Hán Thư – Cảnh thập tam vương truyện ghi: “Hà Gian Hiến Vương Đức được lập trước 2 năm niên hiệu Hiếu Cảnh, là người chuyên tu việc học và hiếu cổ, thành thực mà cầu. Từ trong dân mà có được sách hay thì nhất định cùng họ viết lại, lưu lại chân bản, lại thưởng thêm vàng bạc để chiêu gọi dân chúng. Cho nên người của đạo thuật tứ phương, không kể nghìn dặm xa xôi, có người có được sách cũ của tổ tiên, đều dâng lên HiếnVương, cho nên có rất nhiều sách, nổi tiếng triều Hán.”
[5] Hán Thư – Nghệ Văn Chí ghi: “Thượng thư cổ văn lấy từ trong vách nhà họ Khổng. Cuối đời Vũ Đế, Lỗ Cung Vương phá nhà Khổng Tử, muốn làm rộng cung thất của mình, mà phát hiện hơn các văn bản Cổ Văn Thượng Thư, tới Lễ Ký, Luận Ngữ, Hiếu Kinh, đều là chữ cổ. Cung Vương bước lên thềm nhà đó, nghe thấy tiếng đàn sắt, đàn cầm, chuông, khánh, sợ hãi bèn dừng việc không phá vách nữa.”
[6] Khoa đẩu: chữ viết thời ngày xưa, giống con nòng nọc.
[7] Hán Thư – Nho Lâm truyện ghi: Thời Hán Thành Đế, mong có người đọc cổ văn, Bá vì có Bách lưỡng thiên mà được triệu tập, lấy Trung bí để giám định nó, thì không phải là bản thật.
[8] Vương Sung trong “Luận hành – Chính thuyết” nói: Đến thời Hiếu Thành hoàng đế, triệu tập những nhà cổ văn Thượng Thư học. Trương Bá ở Đông Hải làm lời tựa cho trăm thiên, làm giả 102 thiên, dâng lên Thành Đế. Đế dùng trăm thiên trong bí thư để giám định, đều không tương ứng, thế là hạ lệnh sử tội Bá. Đúng theo tội của Bá thì đáng phải chết. Thành Đế đề cao tài của ông mà không giết, cũng tiếc văn của ông mà không hủy sách. Cho nên102 thiên mà người đời truyền lại, người truyền nói thì gọi là bản Thượng thư có 102 thiên.
Vương Sung trong thiên Luận hành – Dật văn đó cũng có ghi rằng: Hiếu Thành hoàng đế đọc trăm thiên “Thượng thư”, Bác sĩ lang sứ không ai có thể hiểu rõ, liền với những người có thể thông hiểu “Thượng Thư. Đông Hải Trương Bá thông suốt Tả Thị Xuân Thu, làm lời tựa cho trăm thiên, lấy “Tả thị” để giảng giải về chữ nghĩa, làn thành 102 thiên, khi đã hoàn thành thì dâng lên vua. Thành Đế dùng bản Thượng Thư trong thư viện để khảo xét, thấy không một chữ tương ứng, Thành Đế liền hạ lệnh sử tội Bá, đúng theo tội thì Bá phạm tội đại bất kính. Thành Đế thầy tài của Bá hiếm gặp, bèn tha cho cái tội đó, cũng không hủy cái sách đó. Cho nên 102 thiên Thượng Thư vẫn còn truyền ở dân gian.
[9] Cha của ông là Đỗ Nghiệp cũng tinh thông “Thượng Thư”, từng làm Thứ sử Kinh Châu trong khoảng vua Thành Đế, Ai Đế thời Tây Hán. Đỗ Nghiệp là cháu ngoại của danh thần Trương Sưởng thời Tây Hán. Thời Hán Tuyên Đế Trương Sưởng từng làm qua các chức Thái thú Sơn Dương, Kinh Triệu Doãn, lại là nhà văn tự học cổ nổi tiếng nhất thời Tây Hán. Theo “Hán thư – Giao tự chí” ghi lại thời Hán Tuyên Đế ở Mĩ Dương đào được một cái đỉnh, trong đỉnh có lời minh, nhưng văn võ bá quan trong triều không thể đọc được. Có ý định đem cái đỉnh đó đặt trong tông miếu. Lúc đó chỉ có Trương Sưởng thích văn tự cổ, biết được lời minh trên đồ cúng tế. Ông căn cứ theo lời minh viết trên cái đỉnh, phán đoán đỉnh đó là vật thiên tử nhà Chu tặng cho bề tôi. Trương Sưởng cho rằng, cái đỉnh đó tuy là đồ vật thời Chu, nhưng quy cách nhỏ, cấp bậc thấp không thích hợp đặt trong tông miếu Thiên tử nhà Hán. Kiến nghị đó được Tuyên Đế chấp nhận, từ đó danh tiếng của Trương Sưởng càng tăng.
Cha của Trương Sưởng là Trương Phúc phụng sự Hán Thành Đế, làm quan đến chức Quang Lộc Đại phu, em của Trương Sưởng là Trương Vũ, thời Tuyên Đế cũng là rường cột quốc gia, có thể thấy danh tiếng xuất thân của Đỗ Lâm. Hậu Hán thư – Đỗ Lâm truyện” nói: Lâm thủa nhỏ thâm trầm hiếu học, trong nhà đã có nhiều sách, lại có cha con Trương Tủng bên ngoại thích văn thái, Lâm liền theo học Tủng, hiểu rộng biết nhiều, người đương thời gọi là Thông nho. Trương Tủng túc là cháu của Trương Sưởng, cậu của Đỗ Lâm.
[10] Hậu Hán thư – Nho lâm liệt truyện: “Vệ Hoành, tự Kính Trọng, người Đông Hải. Thuở nhỏ cùng với Trịnh Hưng ở Hà Nam, đều là người thích cổ học. Ban đầu, Tạ Mạn Khanh ở Cửu Giang giỏi về “Mao thi”, rồi làm lời huấn cho tập này. Hoành theo Mạn Khanh thụ học, nhân làm “Mao thi tự”, giỏi về “Phong”, “Nhã” mà nay vẫn được lưu truyền. Sau theo Đại Tư Không Đỗ Lâm học theo Thượng thư cổ văn, làm lời “huấn chỉ”. Lúc ấy, có Từ Tuần Sư theo học Hoành, sau thụ học theo Đỗ Lâm, cũng trở nên nổi danh, do đó Cổ văn hưng khởi. Thời vua Quang vũ cử làm Nghị lang”.
[11] Sách Tùy thư – Kinh tịch chí viết: “Đỗ Lâm người Phù Phong thời Hậu Hán, truyền lại Thượng thư cổ văn, người cùng huyện là Giả Quỳ viết huấn, Mã Dung viết truyện, Trịnh Huyền làm chú. Cái mà ông truyền lại, có 29 thiên, lại lẫn thêm phần kim văn, không phải là bản của họ Khổng, không có các thuyết khác”.
[12] Lưu Đào: tự là Tử Kì, tên khác là Vĩ, người Dĩnh Xuyên, Dĩnh Âm, xuất thân là Thái học sinh, là danh sĩ cuối thời Đông Hán. Khi làm chức Thái học độc thư, đã can đảm phê bình việc triều chính, dũng cảm chỉ trích bọn gian thần mà trở nên nổi tiếng trong giới nho sĩ.
[13] Sách Hậu Hán thư – Lưu Đào truyện viết: “Họ Lưu rất thông “Thượng thư”, “Xuân Thu”, làm huấn hỗ. So sánh Thượng thư của ba nhà và cổ văn thấy phần chính văn chênh lệch 700 chữ, nên gọi là trung thư cổ văn”.
[14] Theo sách Hậu Hán thư – Lưu Đào truyện viết: “Các tác phẩm có rất nhiều, lại còn viết “Thất diệu luận”, “Khuông Lão tử”, “Phản Hàn Phi”, “Phục Mạnh Kha”, đến các tác phẩm biện sự, điều giáo, phú, tấu, thư, kí, biện nghi. Phàm cũng hơn trăm thiên”.
[15] Lục Đức Minh trong “Kinh điển thích văn – Tự lục” cũng nói: Loạn Vĩnh Gia, sách “Thư”của các nhà đều mất, mà Khổng truyện cổ văn bắt đầu thịnh hành, được đặt chức Bác sĩ, họ Trịnh cũng đặt một người Bác sĩ.
[16] Hậu hán thư – Nho lâm truyện viết: Phục Sinh ở Tế Nam chuyên về “Thượng Thư”, truyền cho Tế Nam Trương Sinh và Thiên Thặng Âu Dương Sinh. Âu Dương Sinh truyền cho Đồng Quân Nghê Khoan, Khoan truyền cho con của Âu Dương Sinh, đời đời truyền cho nhau, đến tằng tôn là Âu Dương Cao, làm Thượng thư Âu Dương Thị học;Trương Sinh truyền cho Hạ Hầu Đô Úy, Đô Úy truyền cho tộc tử là Thủy Xương, Thủy Xương truyền cho tộc tử là Thắng, làm Đại Hạ Hầu Thị học; Thắng truyền cho anh họ là Tử Kiện, Kiện làm ra một phái khác là Tiểu Hạ Hầu Thị học; ba nhà đều lập bác sĩ… Âu Dương Hấp tự Chính Tư, người Lạc An, Thiên Thừa. Từ Âu Dương Sinh truyền văn bản của Phục Sinh đến Hấp là 8 đời, đều làm Bác sĩ.
[17] (Thanh) Bì Tích Thụy “Kinh học lịch sử”, Bắc Kinh: NXB Trung Hoa thư cục năm 1959, trang 141.
[18] Phạm Diệp, “Hậu hán thư. Trịnh Huyền truyện’’, trang 1207.
[19] Các sách Kinh Thị dịch, Công dương xuân thu, Lễ ký, Hàn Thi đã có trước đây là kim văn kinh học. Còn Chu quan, Xuân Thu Tả Truyện, cổ văn Thượng Thư … đều thuộc cổ văn kinh học.
[20] Phạm Diệp, “Hậu hán thư. Trịnh Huyền truyện’’, trang 1213.
[21] Tào Phi, con trai Tào Tháo ,Thuỵ hiệu Nguỵ Văn Hoàng Đế
[22] Trong Tam Quốc chí – Nguỵ Thư – Vương Túc truyện có nói : Ban đầu, Túc thích học họ Giả[22], cái học họ Mã[22], mà không thích họ Trịnh[22], chọn nhặt những điều khác nhau, làm chú giải Thượng Thư, Thi, Luận Ngữ, Tam lễ, Tả Thị. Cùng với bố là Lang soạn ra Dịch Truyện, đều xếp vào hàng quan học. Điều này bác bỏ điển lễ triều đình, tế giao, tông miếu, táng kỷ, nặng nhẹ, cả thảy hơn trăm thiên. Thời Lạc An Tôn Thục Nhiên, ông tiếp nhận sự truyền học của học phái Trịnh Huyền, người đời gọi là Đông Châu Đại Nho. Ông được triệu làm trông coi Bí thư, nhưng không vào. Ông còn làm tập “Thành Trưng Lụân” để chê trách Huyền, Thục Nhiên bài bác và bỏ đi, và làm chú các sách Chu Dịch, Xuân Thu Liệt, Mao Thi, Lễ Ký, ba truyện Xuân Thu, Quốc Ngữ, Nhĩ Nhã, ngoài ra làm chú cho hơn mười sách nữa.
———*******——–
ĐƯỜNG THI DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VĂN HỌC VIỆT NAM
I. Khái lược về Đường thi.
1.1 Khái niệm Đường thi
Khái niệm Đường thi có từ thời Đường (618 – 907) – một triều đại được coi là có nhiều chính sách tiến bộ nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc. Khái niệm Đường thi vẫn là một khái niệm co dãn, có khi được chỉ tất cả các bài thơ được sáng tác vào đời Đường của Trung Quốc (bất kể thuộc cổ thể hay cận thể), có khi lại chỉ tất cả các bài thơ làm theo thể Đường luật (bất kể được sáng tác vào lúc nào , ở Trung Quốc hay ở Việt Nam).
Cách hiểu thứ nhất, Đường thi được hiểu trùng với phạm vi của một triều đại. Cuốn toàn Đường thi đã sưu tập được 48900 bài thơ của hơn 2200 tác giả sống trong khoảng thời gian từ năm 618 đến năm 907, và được sáng tác trên 3 thể chính : Thơ luật Đường, thơ Cổ phong và Nhạc phủ. Theo cách phân chia này thơ đường được chia làm 4 giai đoạn: Sơ Đường (618 – 713), Thịnh Đường (713 – 766), Trung Đường (766 – 835), Vãn Đường (835 – 907). Nếu theo cách hiểu này, khái niệm Đường thi bị bó hẹp là thơ của một triều đại.
Về cách hiểu thứ hai, có nghĩa là Đường thi trở thành một thể tài, có những nguyên tắc và chuẩn mực nhất định. Khái niệm Đường thi đồng nhất với khái niệm luật thi – một thể thơ mới ra đời vào thời Đường. Như vậy sẽ không còn bó hẹp về không gian và thời gian, chỉ cần những sáng tác đảm bảo quy tắc của luật thi đều là thơ Đường. Nhận thấy rằng tất cả những sáng tác vào thời Đường, dù trực tiếp hay gián tiếp, dù ít hay nhiều đều bị ảnh hưởng bởi thơ Đường luật . Thời Đường có một sự vận động lớn trong thơ ca, mà luật thi là sản phẩm cao nhất của quá trình đó. Nên hiểu theo nghĩa phái sinh Đường thi là một thể loại thơ cũng là hợp lí.
1.2 Đặc điểm của thơ Đường luật
Thơ Đường luật ra đời trên cơ sở những tiền đề về kinh tế, tư tưởng và văn học. Có thể nói chính sự pháp triển về kinh tế, sự tự do về học thuật tôn giáo và sự vận động không ngừng của hệ thống văn chương đã đem đến sự cường thịnh của văn học đời Đường. Hơn nữa triều Đường đã chú trọng phát triển chế độ khoa cử, quy định lấy thơ phú để chọn kẻ sĩ. Vì thế Nho sĩ bồi bổ tài văn chương, sáng tác thơ văn đủ niêm luật để ứng thí . Ngoài ra, thời kì này phong trào dịch thuật kinh Phật rất phát triển, các nhà dịch thuật dùng ngôn ngữ bạch thoại đương thời để dịch kinh phật từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Trung Quốc, làm cho hệ thống ngôn ngữ phong phú đầy đủ hơn. Sự giàu có về ngôn ngữ đủ sức diễn đạt những ý vị sâu sa và những cấu tứ lạ lẫm trong thơ Đường.
Phong cốt và hứng kí là hai khái niệm dùng để diễn đạt đặc trưng về nội dung của thơ Đường luật. Phong cốt thơ Đường lấy cứng cỏi mạnh mẽ của Hán Ngụy bỏ đị phong kí suy đồi thời Lục Triều. Có người nhận xét phong cốt của Đường thi là “tinh thần lạc quan sẵn có của người đời Đường kết hợp với tính cách anh hùng trong văn học Kiến An và truyền thống tinh thần lí tưởng từ Khuất Nguyên trở đi”. Hứng kí nghĩa là tỉ hứng kí thác, thủ pháp của thi nhân dùng tỉ hứng để kí thác hoài bão chính trị của mình (gọi tắt là tỉ hứng). Hứng ký thơ Đường đã tiếp thu và thể hiện quan niệm “mĩ thích tỉ hứng” của truyền thống , coi trọng tác dụng phản ánh hiện thực cuộc sống, đặc biệt là nêu lên nỗi khổ và các giải thoát u phẫn trong lòng nhân dân. Tuy nhiên có sự đổi mới về phương thức thể hiện, vận dụng thủ pháp “trực trần kì sự” của thể phú nên lời thơ cứng cỏi sắc bén.
Thanh điệu và từ chương là yếu tố cấu thành về hình thức của Đường thi. Thanh luật Đường thi là sự kế thừa và phát triển hệ thống thanh luật của thơ ca thời Tề Lương. Theo những ghi chép trong “thơ ca bát bệnh” của Thẩm Ước ta thấy thơ ca thời Tề Lương chia thanh liệu thành 4 loại “bình, thượng, tứ, nhập” tuy chặt chẽ trong từng liên, từng câu nhưng trong lỏng lẻo giữa các liên, và có phần rườm rà khó nhớ. Cách lưỡng phân thanh điệu thành bằng và trắc cùng với những quy định chặt chẽ về niêm luật tạo thành một phương thức quy phạm hóa tuy có phẩn ngặt nghèo nhưng lại thuận tiện trong học tập và nắm vững. Thơ Đường có sự biến hóa linh động trong tổ chức cú pháp. Sử dụng phổ biến hình thức đảo trang, tỉnh lược mất đi trật tự lôgic của tản văn, câu thơ trở nên cô đọng hàm xúc hơn. Ngôn ngữ Đường thi vừa chất thực vừa cứng cỏi, vừa thẳng thắn vừa sát thực.Nó mất đi dạng âm tiết tự nhiên cái gọi là ngôn ngữ đời thường, những hư từ không còn xuất hiện trong văn thơ nữa. Nó cũng không phải là ngôn ngũ bóng bẩy, trau truốt của thơ ca thời Nam Bắc Triều mà là ngôn ngữ tinh tế, được lựa chọn kĩ lưỡng hết sức tự nhiên chứ không hề sống sượng. Nói chung, trong thơ Đường ta thấy lại phong kí lãng mạn nhưng cũng giàu tính hiện thực của Kinh thi và Li Tao, có yếu tố trữ tình, tự sự của thơ ca thời Hán, Lục Triều, có sự phong phú về nội dung phản ành và sự phát triển của thơ ca thời Ngụy Tấn. Sự dung hợp đầy đủ những yếu tố đó trong thơ ca của một thời đại là lí do thơ Đường được tôn vinh là di sản đặc sắc trong nền văn học trong nước và thế giới.
Luật thi được hình thành sau đời Đường khi thơ ca đã phát triển toàn diện và định hình. Luật thi quy định về số chữ trong một cấu, số dòng trong toàn bài. Thơ Đường luật có các dạng chuẩn “thất ngôn bát cú” (tám câu, mỗi câu bảy chữ), và có các biến thể như “thất ngôn tứ tuyệt”, mỗi câu bảy chữ), ” ngũ ngôn tứ tuyệt” (bốn câu, mỗi câu năm chữ),”ngũ ngôn bát cú” (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác, “Thơ bài luật” là một dạng kéo dài của Đường luật, trong đó sự đối ngẫu có trong 6 câu trở lên, cả bài gồm 10 câu trở lên, theo tập quán, thường lấy số vần chẵn chục .. . cho nên thường chia rõ ràng bằng các chữ thập vận, nhị thập vận.
Thơ Đường luật nghiêm khắc ở 3 điểm: Luật, Niêm và Vần.
Luật chia thành luật bằng trắc, và luật đối. Luật bằng trắc của thơ Đường lưỡng phân thanh điệu thanh “thanh bằng” và “thanh trắc”. Đó là sự đối lập về âm thanh của các chữ thứ 2-4-6 trong một câu thơ . Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có “luật bằng”; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có “luật trắc”. Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, và chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi “thất luật”.
Còn luật đối là những quy định về sử dụng nghệ thuật đối trong một cấu và trong một liên. Đối là phương thức tổ chức lời văn bằng cách điệp cú pháp nhằm tạo hai vế, mỗi vế là một câu tương đối hoàn chỉnh, được viết thành hai dòng cân xứng sóng đôi. Đỗi ngẫu có từ trước, sử dụng phổ biến trong thơ ca nhưng đối trượng chỉ dùng trong thơ Đường. Hình thức đối trượng người ta gọi là công đối. Công đối là hình thức đối đầy đủ cả về ý và và về thanh điệu, từ loại. Khoan đối đối rộng đối không chỉnh, đối lỏng. Liên thứ 3, thứ 4 trong một bài thất ngôn luật thi phải đối và nếu chuẩn là hình thức công đối.
Luật là cách thức tổ chức âm thanh trong một liên, và trong một câu của liên. Niêm là cách thức tổ chức âm thanh giữa các liên với nhau. Các câu trong một bài thơ Đường giống nhau về luật thì được gọi là “những câu niêm với nhau”. Hai câu thơ niêm với nhau khi âm thanh của những chữ thứ 2, 4, 6 trong một niêm tương đồng về mặt âm thanh, bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Ở những câu theo nguyên tắc là cần phải niêm, nếu tác giả sơ xuất mà làm thành không niêm thì bài đó bị gọi là “thất niêm”. Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:
- câu 1 niêm với câu 8
- câu 2 niêm với câu 3
- câu 4 niêm với câu 5
- câu 6 niêm với câu 7
Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Những câu này được gọi là “vần với nhau”. Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi “thất vận”. Trong một bài thơ nếu câu đầu tiên gieo vần thì gọi là “thủ cú nhập vận”, và ngược lại gọi là “thủ cú bất nhập vận”. Bài thơ từ đầu đến cuối gieo một vận gọi là “độc vận” Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là “vần chính”, những chữ có vần gần giống nhau gọi là “vần thông”. Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ
II. Ảnh hưởng của thơ Đường luật đến văn học Việt Nam.
2.1 Những tiền đề cho sự tiếp nhận Đường thi của văn học Việt Nam
Văn học Trung Quốc có ảnh hưởng sâu sắc đên văn chương Việt Nam. Mối quan hệ đó được hình thành từ những năm Bắc thuộc, và tiếp tục phát triển cho đến những giai đoạn tiếp theo. Trong cuốn “thi pháp văn học trung đại Việt Nam” giáo sư Trần Đình Sử có nhận xét về văn chương chữ Hán Việt Nam như sau: “Người Việt Nam hầu như đã di thực toàn bộ thể loại văn học của Trung Quốc vào Việt Nam với những quy mô và biến đổi khác nhau. Trước hết là các thể loại của sử học và các thể loại hành chính, sau đó là các thể loại thơ, phú và truyền kì, tiểu thuyết”. Trong mối quan hệ đó, Đường thi không thể không có ảnh hưởng đến văn học Việt Nam. Hơn nữa Việt Nam lại có một số yếu tố kích thích thi nhân sử dụng Đường thi để sáng tác. Thơ Đường ngay từ khi ra đời đã có ảnh hưởng khá đậm nét ở Việt Nam, và chỉ đến khi thơ mới những năm 30 của thế kỉ XX ra đời thì sáng tác thơ theo phong cách thơ Đường mới dần dần ít đi. Ở Việt Nam thơ Đường được sáng tác bằng hai ngôn ngữ chính là chữ Hán, và chữ Nôm. Dù là Nôm hay Hán đều có những sáng tác thơ Đường đạt đến mức điêu luyện. Thi nhân sáng tác thơ Đường như một thể thơ của dân tộc.
Để nói về những thuận lợi của việc du nhập thơ Đường vào văn thơ dân tộc, trước hết, cần phải nói rằng thơ Đường luật có một kết cấu chặt chẽ, ổn định. Tính chất mô hình hóa khá cao, đây là điểm khó khăn trong sáng tác nhưng lại tạo sự dễ dàng cho sự tiếp thu và chuyển hóa, mô hình càng chặt thì càng dễ đưa đi xa. Cũng như các nước trong khu vực, Việt Nam cũng tiếp thu phần ảnh hưởng của thơ đường.
Về mặt ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu phân tích rằng, trong thời kì Bắc Thuộc người An Nam có thể nói chuyện bình thường với người Trung Quốc. Cho nên những hình thức về âm điệu đời Đường không có gì xa lạ trong đời sống của người dân ta.
Vào đời Đường chính quyền phong kiến tăng cường hệ thống giảng dạy chữ Hán, để đọc được chữ Hán người việt đã dựa vào cách đọc của người Hán và đặc điểm ngữ âm của người Việt từ đó hình thành nên cách đọc Hán Việt. Mặc dù trong quá trình biến đổi ngữ âm của người Việt âm Hán Việt này cũng biến đổi nhưng về cơ bản cách đọc Hán Việt này vẫn còn tồn tại. Trong khi đó ở Trung Quốc sau đời Đường ngữ âm tiếng Hán tiếp tục biến đổi để hình thành nên tiếng Trung Quốc hiện đại, về mặc ngữ âm đã khác hẳn với đời Đường, vì thế có hiện tượng thơ Đường Luật không đúng với ngữ đặc điểm ngữ âm đương thời nhưng đúng với ngữ âm đời Đường. Quá trình đối chiếu người ta nhận thấy tiếng Việt đã lưu lại cách đọc chữ Hán đời Đường
Cách đọc hán Việt của người Việt bắt nguồn hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường mà cụ thể là Đường âm dạy ở giao Châu vào giai đoạn bao gồm hai thế kỉ VIII, IX. Đến năm 938, khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán, thành lập một quốc gia độc lập thì những ảnh hưởng về ngôn ngữ dần dần ít đi. Trong khi ở Trung Quốc hệ thống ngữ âm tiếp tục phát triển nhiều biến đổi khác trước, thì âm đọc tiếng Hán đời Đường vẫn được giữ lại ở Việt Nam. Vì thế đôi khi ở trong tiếng hán hiện đại một số bài về gieo vần và luật bằng trắc không chuẩn nhưng ở trong tiếng Hán Việt thì lại rất chuẩn. Sự biến đổi âm Hán Việt trong lịch sử chỉ là sự biến đổi ở phụ âm đầu, âm đệm không biểu hiện ở phụ âm cuối âm tiết, ở thanh điệu, phần vần chỉ có sự khác biệt đôi chút không cơ bản. Vì thế có người nhận xét người Việt Nam đọc thơ Đường như Lí Bạch ngâm thơ của mình.
Hơn nữa, thơ Đường luật lại được đưa vào hệ thống thi cử nước ta. Ở Việt Nam từ khoa thi Giáp Thìn (1304) đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 12, thơ Đường luật đã được đưa vào khoa cử. Từ đó trở đi, môn thi thơ Đường luật là môn thi luôn có trong phép thi các đời. Khi thơ Đường luật trở thành một môn thi bắt buộc thì việc làm thở Đường luật không chỉ là công việc sáng tác văn chương mà là việc học nghề , gắn liền với cơm áo và danh vọng.
2.2 Nhận diện thơ Đường trong bài Mạn hứng 2 của Nguyễn Trãi
2.2.1 Văn bản bài thơ “Mạn hứng2”
v Nguyên văn
漫興
九萬摶風記昔曾
當年錯比北溟鵬
虛名自嘆成箕斗
後學谁將作準繩
一片丹心真汞火
十年清職玉壺冰
優游且復言余好
俯仰隨人謝不能
v Phiên âm
Mạn hứng
(1)Cửu vạn đoàn phong kí tích tằng,
(2) Đương niên thác tỉ bắc minh bằng
(3) Hư danh tự thán thành cơ đẩu
(4) Hậu học thùy tương tác chuẩn thằng.
(5) Nhất phiến đan tâm chân hống hỏa
(6) Thập niên thanh chức ngọc hồ băng
(7) Ưu du thả phục ngôn dư hiếu
(8) Phủ ngưỡng tùy nhân tạ bất năng
v Dịch nghĩa
Vượt lên chín vạn dặm , nhớ xưa đã từng
Lúc bấy giờ lầm ví mình như chim đại bàng biển Bắc
(Được) cái hư danh than (mình) như sao Cơ sao Đẩu
Sau này học giả ai sẽ (lấy ta) làn cái mực cái thước.
Một tấm lòng son như lửa luyện đơn bằng thủy ngân,
Mười năm thanh chức như mảnh giá trong bình ngọc
Đùng đỉnh thung thăng hãy lại nói lên điều ta ưa thích
Ngửng lên cúi xuống theo người đời, xin từ chối không sao làm được.
v Dich thơ
Từng cỡi gió vẫy vùng vạn lí
Năm xưa ta làm vì chim bằng
“Đấu, Cơ” danh hão mà thương
Ai làm mực thước cho làng hậu nho
Lòng son rực như lò luyện thủy
Tuyết băng trong xuất sĩ mười năm
Ung dung nói hướngta nhằm
Vào luồn ra cúi rằng can bất tài
(Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Phan Võ – Lê Phước ,Đào Phương Bình dịch, NXB văn hóa, viện văn học, 1962, trang71)
2.2.2 Giới thiệu tác giả tác phẩm
Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai, quê Chí Linh Côn Sơn Hải Dương. Ông là một trong những bậc khai quốc công thần của nhà Lê, từng phụ giúp Lê Thái Tổ đánh thắng quân Minh xâm lược. Hòa bình lập lại ông tích cực đưa ra những cải cách . Tiếng là được vua tin dùng nhưng tư tưởng nghi thị khai quốc công thần của vua Lê, tính mạng của Nguyễn Trãi thường xuyên bị đe dọa. Hơn nữa tuy là chức cao nhưng thực chất quyền hạn không được là bao. Năm 1440 Nguyễn Trãi lui về ở ẩn ở Côn Sơn. Năm 1442, sau vụ án Lệ Chi Viên Nguyễn Trãi nghi ngờ là mưu sát Lê Thái Tông, và bi tru di tam tộc. Đến đời vua Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi được giải oan và được phục hồi lại danh phẩm.
Bài thơ Mạn hứng 2 là nằm trong chùm thơ Mạn hứng 5 bài. Và được in trong tập thơ “Ức Trai thi tập” do Trần Khắc Kiệm biên soạn và đề tựa năm 1480. Tập thơ gồm 105 bài thơ chữ Hán
2.2.3 Biện biệt về niêm, luật, vần của bài thơ
a, Luật
Chữ thứ hai của câu đầu gieo vần trắc nên bài thơ thuộc “luật trắc”. Luật bằng chắc trong từng câu và trong từng liên đều đối rất chuẩn. Trong mỗi câu chữ thứ 2, 4,6 đối nhau. Và chữ thứ 2 của câu thứ nhất đối thanh với chữ thứ 2 của câu thứ hai, chữ thứ 4 của câu thứ nhất đối thanh với chữ thứ 4 của câu thứ hai, chữ thứ 6 của câu thứ nhất đối thanh với chữ thứ 6 của câu thứ hai,
Liên 1 :
(1) T T B B T T B
(2) B B T T T B B
Liên 2 :
(3) B B T T B B T
(4) T T B B T T B
Liên 3
(5) T T B B B T T
(6) T B B T T B B
Liên 4
(7) B B T T B B T
(8) T T B B T T B
Trong liên thơ thứ 2, thứ 3 có sừ dụng hình thức đồi
虛名自嘆成箕斗
後學谁將作準繩
Hư danh ><hậu học, tự thán ><thùy tác
一片丹心真汞火
十年清職玉壺冰
Nhất phiến băng tâm >< mười năm thanh chức, nhất và mười đều là số từ, thanh và đan đều chỉ màu sắc.
b, Niêm
Là sự phối hợp âm thanh giữa các liên với nhau. Cứ câu đầu liên này phối hợp với câu cuối của liên kia. chữ thứ 2 của câu thứ nhất đồng thanh với chữ thứ 2 của câu thứ hai, . chữ thứ 4 của câu thứ nhất đồng thanh với chữ thứ 4 của câu thứ hai, . chữ thứ 6 của câu thứ nhất đồng thanh với chữ thứ 6 của câu thứ hai,
Niêm 1:
(1)T T B B T T B
(8)T T B B T T B
Niêm 2
(2) B B T T T B B
(3) B B T T B B T
Niêm 3
(4)T T B B T T B
(5) T T B B B T T
Niêm 4
(6) T B B T T B B
(7) B B T T B B T
c, Vần
Vần : bài thơ gieo vần “ăng” ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 đây là bài thơ độc vận và “thủ cú nhập vận”.
2.2.4 Điển tích, điển cố trong bài thơ
– “九萬摶風” , “北溟鵬” là lấy tích trong sách Nam Hoa Tử , của Trang Tử.
Trong “Tiêu dao du”, có viết:
“ Biển Bắc có con cá gọi là cá côn, mình dài không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim gọi là chim bằng, lưng ronngj không biết mấy ngàn dặm, khi tung cánh bay thì cánh nó như đám mây trên trời. Biển ( Bắc) động thì nó dời về biển Nam, biển Ban là Ao trời.
Tề Hài là sách ghi những chuyện quái dị. Sách đó bảo khi con chim bằng dời xuống biển Nam, nó đập nước tung tóe lên ba ngàn dặm rồi nương gió lốc cuốn lên chim cao chín vạn dặm. Nó xuống biển Nam vào tháng sau, lúc gió nồi lên.”
Người ta dùng tích này để chỉ người tài chí hơn người, đứng trên tất cả. Con người đó giống như cánh chim Bằng biển Bắc, không chụi gò bó bởi bất cứ điều gì, và là người có tài năng và phẩm chất hơn người. Tuy trong bài thơ Nguyễn Trãi chỉ nói là “nhầm” ví mình như cánh chim Bằng nhưng đây cũng là một trong những minh chứng để người ta nghi ngờ vấn đề tư tưởng bá vương của Nguyễn Trãi.
– 虛名自嘆成箕斗
箕斗 là tên hai ngôi sao trong nhị thập bát tú.trong Kinh thi – Đại nhã có câu “Duy Nam hữu cơ, bất khả dĩ bá dương
Duy Bắc hữu đẩu, bất khả dĩ tửu tương”
(Phương Nam có sao cơ (hình giống cái nia) không thể dùng sàng sẩy được
Phương Bắc có sao đẩu (hình giống cái đấu) không thể dùng chứa rượu được)
ở đấy ý nói là vô dụng
Tô Đông Pha thời Tống cũng có câu thơ
“Ta quân diệu chất giai hồ liễn
Cố ngã hư danh đán cơ đấu”
Bài thơ được sáng tác trong thời gian Nguyễn Trãi làm công thần dưới triều vua Lê Thái Tổ. Nguyễn Trãi có khi được giữ chức vụ rất cao như Hàn lâm thừa chỉ, Lại bộ thượng thư ,nhập nội hành khiển, kiêm quản khu mật viện… thế nhưng nhiều chính sách cải cách của ông không được thực hiện nên ông tự gọi đó là những hư danh.
– “一片丹心” : Là một thành ngữ của trong Đường thi để chỉ tấm lòng son sắc. Đỗ Phủ cũng có câu:
白髮千莖雪
丹心一寸灰
“Bạch phát thiên hành tuyết
Đan tâm nhất thốn hôi”
III. Kết luận
Từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận là bài thơ thuộc thể thất ngôn luật thi. Đảm bảo về những quy định nghiêm ngặt của thơ luật. Chỉ 56 chữ nhưng bài thơ đủ sức tái hiện được tâm trạng của Nguyễn Trãi những ngày làm quan dưới triều Lê.Sự u uất trong việc không có thực quyền. Nhận thấy răng đây cũng không phải là một bài thơ hết sức đặc sắc. Thông thường một bài Đường thi chuẩn thì ở cả liên 2, liên3 đều vận dụng hình thức công đối, bài thơ có sử dụng hình thức đối nhưng chưa phải là công đối. Tuy nhiên đây cũng là một minh chứng rằng đường thi có ảnh hưởng sâu đậm đến thơ ca Việt Nam, và các tác gia văn học Trung đại Việt Nam nắm rất chắc về vần, thanh điêu của thơ Đường.
Hình ảnh người chinh phu trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn
Trong lịch sử văn học, ngâm khúc là một hình thức thơ ca cổ, gắn liền với âm nhạc, mang nội dung trữ tình, được ra đời trên cơ sở những lời ca điệu hát dân gian đời Kim và phát triển mạnh mẽ ở đời Nguyên.Ở Việt Nam ,những tác phẩm ở thể loại ngâm khúc là những bài thơ dài ,viết theo thể song thất lục bát ,có nội dung trữ tình chủ yếu để diễn tả tâm trạng,nói đúng hơn là để diễn tả tâm trạng buồn. Khi cuộc sống đòi hỏi phải có những thể loại lớn hơn để diễn tả bao quát,khi mà những thể loại thơ liêm luật chắt chẽ bó buộc cảm xúc con người thì người ta tìm đến ngâm khúc.Thể loại văn học này đạt đến thành tựu cao ở thế kỉ 18 bên cạnh thể hát nói ,và truyện Nôm, tiêu biểu như Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn,Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều…. Những tác phẩm này thường được viết bằng chữ Hán mỗi câu thường hai vế ,phần lớn là đối nhau ,thỉnh thoảng có chen những vế lẻ.Trong mỗi vế không quy định số chữ, có câu ba bốn chữ, có những câu chín mười chữ, thông thường là bảy chữ.Tuy nhiên có những tán phẩm viết bằng chữ Nôm ,và những quy tắc về vần ,về đối không được tuân thủ một cách chặt chẽ.
Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là một trong những tác phẩm mở đầu cho một giai đoạn văn học mới với những cảm hứng mới về con người đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội.Hiện tại về tác phẩm và tác giả vẫn chưa có thông tin chính xác, nhưng nhìn chung giới nghiên cứu đều thống nhất rằng tác phẩm được viết vào đầu niên hiệu Cảnh Hưng đời vua Lê Hiển Tông(1740- 1710). Đây là một thời kì loạn lạc với hai cuộc chiến tranh Lê -Mạc và Trịnh- Nguyễn.Chinh phụ ngâm là nỗi nhớ thương ,khát khao hạnh phúc lứa đôi của một nữ quý tộc trẻ có chồng ra trận.
Về vấn đề dịch Chinh phụ ngâm, theo như Phan Huy Ích thì có bảy bản dịch Chinh phụ ngâm trong đó có ba bản bằng thơ lục bát và bốn bản bằng thể loại song thất lục bát.Còn ai đã dịch bản dịch hiện hành Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm hiện nay vẫn đang trong quá trình nghiên cứu và thẩm định.Tác phẩm sử dụng nhiều điển tích điển cố vì thế trong quá trình dịch tác phẩm để chuyển tải hết ý nghĩa của mỗi câu thơ là một vấn đề không hề đơn giản. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đối khi điều kiện nghiên cứu ngày càng cao thì những vấn đề tranh cãi về cách dịch tác phẩm càng thêm sôi nổi.
Trong tác phẩm, có hai nhân vật trữ tình :người chinh phu và người chinh phụ . Chinh phụ ngâm là tiếng lòng của người chinh phụ có chồng đi lính. Chính vì thế người chinh phu chỉ xuất hiện trong những hồi ức và trong sự mong nhớ của người vợ.Tuy nhiên ta cũng phần nào hình dung ra hình ảnh những người chinh phu trong xã hội phong kiến đương thời. Con người xưa theo Trần Đình Hựu đó là “con người chức năng trong xã hội luân thường”, mỗi người trong xã hội phong kiến đều “dĩ thánh hiền lập ngôn” và đều trong mối quan hệ ngũ luân. Tinh thần trung quân ái quốc được đề cao,vì thế trong xã hội xưa đấng trượng phu lấy công danh làm trọng :
“Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”
Đã là kẻ sĩ trong thiên hạ thì phải lấy việc phò vua ,giúp dân làm trọng. Đặng Trần Côn sống trong xã hội ấy cho nên trong tác phẩm của ông thấy thấp thoáng hình tượng tiêu biểu cho những con anh hùng trong xã hội phong kiến. Những con người lấy việc Tu, Tề , Trị ,Bình làm gốc. “Quân hứa quốc tâm như đơn”( đem quân giúp nước với tấm lòng đỏ như son) “Quân tì dân thân như thiết”(giúp dân che trở cho dân vì chí gan sắt lâu bền). Vì thế dù biết trước là đi lính là gian khổ :
“Cổ lai chinh chiến trường
Vạn lí vô nhân ốc
Phong ngao ngao hề đả đắc nhân nhan tiều”.
(Từ xưa tới nay nơi chiến địa, muôn dặm hoang vu không có người nhà ở.Chỉ có gió vội vã ào ào thổi làm cho khô héo khô dung nhan người).
Và ra chiến trường là hi sinh: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi”, thế nhưng những đấng nam nhi vẫn tình nguyện ra đi. Hình ảnh lúc xuất quân mang tính ước lệ,tiêu biểu cho hình ảnh của những quân sĩ thời phong kiến “hành nhân trọng pháp khinh li biệt” .Hình ảnh ấy đẹp lộng lẫy ,oai phong:
“Quân xuyên trang phục hồng như hà
Quân kị kiêu mã bạch như tuyết”
(Hào hùng thay khi chàng mặc chinh phục màu hồng của ráng và cưỡi con ngựa kiêu hùng sắc trắng như tuyết ,ngựa đeo nhạc đầy đủ yên cương)
Tinh thần của chàng ngùn ngụt ý chí đánh giặc,trong tác phẩm nhiều lần tác giả nói đến ý chí lập công của những người lính trong xã hội xưa. Đó là:
“Trịch li bôi hề vũ Long Tuyền
Hoành chinh sóc hề chỉ hổ huyệt”
Cái chí khí vũ dũng của chàng khi quăng chén rượu li biệt,múa cây kiếm Long Tuyền (vốn là thanh kiếm quý của vua nhà Chu).Lại cầm ngang ngọn giáo chỉ vào hang cọp thề quyết.
Hay:
Vân tuỳ Giới Tử liệp Lâu Lan
Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện
Chàng noi gương ông Phó Giới Tử( người nước Tấn thời Xuân thu chiến quốc) đi bắt vua Đại Uyển là Lâu Lan. Chàng vui cười sẽ đến chốn Man Khê (thuộc đời nhà Hán,là quê hương của dân tộc Bản Hồ nay thuộc Quý Châu, Hà Nam) để luôn đàm chuyện anh dũng cảm Mã Viện.
Những đấng trượng phu trong xã hội ,mong học kinh nho để kinh bang tế thế, nếu có giặc thì chàng sẵn sàng ra đi. Và ra đi mà lòng vui vẻ ,tràn đầy hi vọng,có lẽ đó cũng là cơ hội cho mỗi người “lập danh”, trở thành những người “quân tử hữu vị” trong thiên hạ.Trong họ đang mong ước giết giặc lập công, được vinh danh cùng núi cùng sông,cho nên câu thơ có âm hưởng cũng khá trầm hùng:
Đầu bút nghiên hề sự cung đao
Trực bả liên thành hiến minh thánh
Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêu
Trượng phu thiên lí chí mã cách
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao
Tiện từ khuê kổn tùng chinh chiến
Tây phong minh tiền xuất Vị kiều”
Từ giã bút nghiên theo việc đao cung,muốn đem mấy mươi thánh dâng lên vua.Kẻ trượng phu có cái trí tung hoành ngoài nghìn dặm, được lấy da ngựa bọc thây trốn trường .Tính mạng mình vốn coi nặng như Thái Sơn,nhưng vì dân, vì nước ,vì vua nên coi nhẹ như lông chim hồng.Phải từ giã chốn khuê phòng ra đi theo chinh chiến,vun vút roi ngựa theo ngọn giá Tây đến Vị Kiều.Với tư tưởng “xả sinh thủ nghĩa”,người quân tử có lẽ nào lại sợ cái chết ? Câu thơ có gì giống với câu thơ của L í Bạch :
Yên Nam tráng sĩ Ngô Môn hào
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao.
Xếp bút nghiên là lấy theo tích của Ban Siêu , đời Hán Minh Đế. Ông vốn theo anh ghi chép sử nhưng khi nghe thấy Hung Nô cướp bóc tài sản của những người dân vùng biên cương , ông liền quăng bút đi và nói “Đại trượng phu phải như Trương Khiên , đi lập công ngoài biên giới ,chứ sao lại suốt đời ru rú trong thư phòng”.Về sau điển tích này được lấy để minh chứng lòng nhân nghĩa của những “kẻ sĩ” trong xã hội. Cái chí khí tung hoành của chàng khiến cho ta có lúc quên rằng đây là tiếng lòng thiết tha của người phụ nữ trẻ.
Tiếp theo người chinh phụ còn vẽ ra viễn cảnh ,chồng trở về trong khúc ca khải hoàn. Đó cũng chính là nguyện ước của người quân tử trong xã hội phong kiến:
Lặc thi hề Yên Nhiên thạch
Hiến quắc hề Vị Ương cung
Vị ương cung hề hướng thiên triều
Vãn Ngân hà hề tẩy đao cung
Từ nhân san hạ Bình Hoài Tụng
Nhạc phủ ca truyền nhập Hán dao
Lăng Yên các hề TẦn Thúc Bửu
Kì Lân đài hề Hoắc Phiêu Diêu
Trên hòn đá núi Yên Nhiên ghi lại công lao của chàng . Chàng lại dâng đầu giặc ở cung Vị Ương, cung Vị Ương nơi họp triều thần chầu vua .Lấy nước sông Ngân Hà để rửa sạch cung đao. Bọn nhạc công trong cung sẽ đặt bài ca “Tụng bình hoài” ,bài ca dao mới ,nơi nơi truyền bài ca nhập Hán .Vẻ vang danh chàng được ghi vào lăng Yên Các,chẳng thua kém gì Tần Thúc Bảo.Trên đài Kì Lân ,danh nghiệp công huân chàng cũng rực rỡ không kém Hoắc Phiêu Diêu được khắc tượng. Đó là ước muốn chung cho những con người sống trong xã hội phong kiến.Ta có thể tìm những hình ảnh này ở bất cứ tác phẩm văn học Nho giáo quan phương nào trong giai đoạn văn học trước.
Đặng Trần Côn đã xây dựng hình ảnh người chinh phu rất giống với những nhân vật trữ tình trong giai đoạn văn học trước ,mỗi nhân vật trong tác phẩm đều là những con người mang tính khái quát, cảm xúc chủ yếu xoay quanh vấn đề cứu nước ,giúp dân, và tình cảm chủ yếu xoay quanh “ngũ thường” Nhân ,Nghĩa ,Lễ ,Trí, Tín. Bên cạnh con người mang tính khái quát đó trong tác phẩm ta cũng biết đến một chinh phu cụ thể,có gia thế có địa vị trong xã hội. Đó là một con người riêng trong cái chung của toàn xã hội phong kiến. Người chinh phu đang ở độ thanh xuân “Lương nhân nhị thập Ngô môn hào”(Chồng ta người thanh niên lương thiện ở tuổi 20,dòng dõi hào kiệt như Ngô Khởi).Hoàn cảnh gia đình cũng rất cụ thể:
“Quân hữu lão thân mấn như sương
Quân hữu nhi lang niên thả nhụ”
(Chàng có mẹ già tóc bạc như sương,chàng có con thơ tuổi đang măng sữa)
Có thể nói qua gia cảnh và qua tác phong ,qua ý chí chiến đấu của chàng,nhà thơ muốn xây dựng lên ở đây không phải là hình ảnh người lính bình thường mà là người anh hùng lí tưởng trong xã hội phong kiến.Nhưng cái mới ở đây chính là tính chất hiện thực của tình cảm, cảm xúc.Đó là con người thanh niên trẻ tuổi cho nên cũng khát khao tình cảm,cũng có tình yêu hết sức mặn nồng.Qua những hồi tưởng của người chinh phụ về những cảnh yêu đương,quấn quýt ,“Tích vi hình dữ ảnh” (thiếp với chàng khi xưa như hình với bóng) ta hiểu rằng những con người chức năng đó cũng có những cảm xúc rất “người”.
Nếu như lúc ra đi đầy oai phong “khinh sự biệt li”, thì ở đây ta hiểu rằng chàng không hề là chỉ “con người chức năng” mà vẫn là một người giàu tình cảm.Cái khác nhau trong hình ảnh con người xã hội phong kiến trong từng thời kì là ở chỗ đó. Xã hội phong kiến vốn chiết toả tình cảm của con người trong mọi quan hệ, và gay gắt nhất là trong quan hệ nam nữ. Vì thế ta ít gặp được cùng một lúc hình ảnh một con người vừa oai phong lẫm liệt ,vừa có những cảm xúc yêu đương như ở đây. Tuy rằng ở đây tác giả vẫn phải mượn những suy nghĩ của người vợ trẻ đang mong ngóng đức lang quân .
Trong tâm chàng vẫn nuôi giấc mơ đoàn viên.Trong những bức thư gửi về cho người vợ trẻ chàng cũng nhiều lần hẹn ngày về:
“Quân ước đỗ quyên đề
Đỗ quyên dĩ trục hoàng li lão”
Chàng hẹn khi chim đỗ quyên đã giục,chim oanh đã già(đã qua hè thu đông)
“Quân chỉ đào hoa hồng”
Chàng nói ngày chàng về vào độ hoa đào đã nở
“Dữ ngã ước hà sở
Nãi ước Lũng Tây sầm”
Lại nhớ cùng chàng hẹn thiếp nơi nào,chàng hẹn thiếp nơi núi đồi xứ Lũng Tây (thuộc vùng đất Quảng Tây Trung Quốc)
Nãi ước Hán Dương kiều
Chàng hẹn thiếp bên cầu Hàn Dương (tên vùng đất thuộc tỉnh Cam Túc)
Tích niên kí thư đính thiếp kì
Kim niên hồi thư đính thiếp quy
Năm ngoái thư gửi thiếp chàng có hẹn ngày về.Năm nay thư gửi thiếp chàng cũng hẹn ngày về
Không chỉ một lần hẹn ngày đoàn viên mà trong tác phẩm xuất hiện nhiều lần, người chinh phu thường hướng về nơi nhà nơi có người vợ trẻ đang ngóng trông từng ngày.Và chính chàng cũng khát khao cuộc sống bình yên,là người lính chàng hiểu rõ hơn hết sự vô lí của chiến tranh, giá trị của hạnh phúc gia đình bình dị. Người ra đi mà lòng biết bao bịn rịn,lưu luyến ,nhớ thương :
“Quy khứ lưỡng hồi cố
Vân thanh hề sơn thương
Lang cố thiếp hề Hàm Dương
Thiếp cố lang hề Tiêu Dương”
Người ở kẻ đi cùng mong ngóng nhau.Chỉ trông với nhau từ đám mây và dải núi xanh.Chàng mong ngóng thiếp từ Hàm Dương (kinh đô của nhà Tần thời Tần Hiếu Công (353TCN) ,nay thuộc thành phố Hàm Dương -Thiểm Tây ) .Thiếp mong ngóng thiếp từ Tiêu Dương ( tên sông ở tỉnh Hồ Nam do hai sông Tiêu và sông Tương hợp lại) Cho nên đằng sau vẻ đạo mạo phấn khởi lên đường đó vẫn là con người đầy mong nhớ. Trong xã hội phong kiến, những nhớ thương đó được liệt vào thói nữ nhi thường tình.Nhưng đó mới chính là con người thật sự. Một con người đang độ tuổi thanh niên, làm sao không có những cảm xúc yêu đương ấy. Vì họ là:
“Nhất cá thị phong lưu niên thiếu khách
Nhất cá thị thâm khuê thiếu niên hôn” (more…)
TIẾP NHẬN LI TAO DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HỌC SỬ
- 1. Văn học sử và các vấn đề văn học sử
Tiếp cận tác phẩm văn học luôn chứa đựng những yếu tố mở, không còn bó hẹp trong những phương thức truyền thống như thi pháp học, huấn hỗ học, văn tự học mà mở rộng ra nhiều phương thức khác nhau như văn hóa học, phân tâm học hay liên văn bản. Chính sự đa dạng và tính mở trong lựa chọn phương thức tiếp cận đã mang đến những nhận định sắc sảo và mới mẻ cho những tác phẩm văn học. Trong các phương thức trên, phương thức tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc độ văn học sử là một phương thức truyền thống, cơ bản. Nhưng bản thân phương thức này, cũng đang biến đổi theo cùng với sự biến đổi của xã hội đặc biệt là sự biến đổi về ý thức và tư tưởng. Đã có một thời những tác phẩm được tiếp nhận theo góc độ văn học sử nhưng dưới con mắt của một nhà văn học mang tư tưởng tả khuynh, đặt nặng vấn đề giai cấp. Khi đó khó mà có thể đưa ra những nhận xét đúng đắn về hiện tượng văn học, cũng như xác định vai trò của nó trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Trong thời điểm gần đây, khi giai đoạn nhạy cảm chính trị đã qua đi, nhà nghiên cứu không còn bị câu thúc trong bất kì một hệ tư tưởng nào thì vần đế đặt ra chính là viết lại văn học sử, để nhận diện chính xác bản thân văn học.
Một công trình văn học sử phải khái quát được tiến trình phát triển của lịch sử văn học, trên cở sở chỉ rõ và phân tích các yếu tố nội tại trong bản thân văn học. Một công trình văn học sử thực sự là phải làm bật được tính giai đoạn và tính liên tục của lịch sử phát triển văn học. Điều đó có nghĩa là yếu tố cơ bản đầu tiên và cũng là quan trọng nhất của nhà văn học sử là vần đề phân kì văn học. Không ít tác giả đã đồng nhất phân kì văn học với phân kì lịch sử của một quốc gia, như thế đã vô tình đồng nhất sự biến đổi văn học với sự hưng phế bất thường của một triều đình phong kiến. Đúng đắn và chính xác là phải nghiên cứu sự vận động của các yếu tố nội tại trong văn học là :quan niệm văn học và mỹ học; hệ thống chủ đề, đề tài; hệ thống hình tượng nhân vật trung tâm; hệ thống thể loại, và cuối cùng là ngôn ngữ văn học, chỉ khi nào cả 5 yếu tố đó đều biến đổi thì mới đủ hợp lí để đặt mốc phân kì văn học. Tiếp đến trong từng thời kì văn học phải nói rõ đặc điểm, sự kế thừa và đóng góp của các tác gia trong giai đoạn này, đồng thời cũng xác định tác giả tác phẩm tiêu biểu. Ngoài ra, nghiên cứu cụ thể một giai đoạn văn học thì phải giới thiệu được vị trí và ảnh hưởng của tác giả, tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn văn học đó cũng như trong toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử văn học. Ở đây chúng ta sẽ sử dụng phương pháp này để tìm hiểu tác phẩm Li Tao của Khuất Nguyên.
- 2. Giới thiệu Li Tao và Khuất Nguyên
Khuất Nguyên là một nhà thơ nước Sở thời kì Xuân Thu Chiến Quốc của Trung Quốc. Li Tao là một tác phẩm không những có tính chất đại diện cho tên tuổi của Khuất Nguyên mà còn cho cả Sở Từ. Nội dung chủ yếu của tác phẩm là phản ánh nỗi phẫn nộ của Khuất Nguyên đối với nền thống trị thối nát, đen tối của nước Sở, cũng như nỗi thống khổ của ông nhiệt ái cố quốc, nguyện hết lòng cống hiến và nó mà không thể được của ông, đồng thời cũng bộc lộ nỗi ai oán của bản thân bị đãi ngộ không công bằng. Cả bài thơ khổ đau tê tái, tình cảm vô cũng mãnh liệt, nỗi buồn khổ, đau đớn của ông trào ra không sao ngăn cản được, từ đó hình thành nên đặc điểm trở đi trở lại về hình thức thơ ca. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu thời xưa dùng Tao, hay Tao thể để gọi thay cho Sở từ. Như Lưu Hiệp thời Nam Triều trong tác phẩm Văn tâm điêu long có thiên “Biện Tao” nghĩa là bàn về Li Tao, nhưng nội dung thiên lại bàn về cả Sở Từ cũng như đặc điểm sáng tác của Khuất Nguyên . Chính vì tình chất đặc trưng và quan trọng của tác phẩm, nên khi viết văn học sử cần phải làm nổi bật được sự kế thừa, sáng tạo và đóng góp cho tiến trình phát triển của lịch sử văn học. Vì sự phát triển của văn học, thực tế cũng chính là quá trình vừa sự tiếp thu kế thừa không ngừng của sáng tác văn học sau này với văn học truyền thống đã qua, vừa không ngừng làm mới.
- 3. Li Tao dưới góc nhìn văn học sử
Chúng ta sẽ tìm hiểu, những yếu tố cũ và yếu tố mới trong Li Tao, trên cơ sở tìm hiểu nét tương đồng ta sẽ tìm hiểu rõ sự khác biệt và tính sáng tạo của Khuất Nguyên. Trước hết, chúng ta sẽ tìm hiểu Li Tao đã kế thừa những gì từ nền văn học dân tộc. Hầu hết những sáng tác của các tác gia thời kì đầu của văn học đều có nền tảng trên các chất liệu dân gian. Khuất Nguyên đã tiếp nhận những đặc điểm và thành tựu là Kinh Thi và dân ca nước Sở. Kinh Thi và Sở Từ là hai đại diện xuất sắc nhất của văn học Trung Quốc giai đoạn Tiên Tần. Nếu như nói “Kinh Thi” là đại biểu cho văn hóa Trung Nguyên phương bắc, là lời nói đánh dấu thành tựu cao nhất của văn học thuộc lưu vực sông Hoàng Hà, vậy thì, “Sở Từ” lấy Khuất Nguyên làm đại biểu, thì cũng là đại biểu cho văn hóa nước Sở phương nam, đánh dấu thành tựu cao nhất của lưu vực sông Hoài. Kinh Thi ra đời vào khoảng thế kỉ thứ VI TCN, Khuất Nguyên sáng tác Li Tao trong khoảng thế kỉ thức IV TCN, tuy Kinh Thi và Sở từ không cùng thời kì, không cùng khu vực và có nhiều điểm khác biệt về hình thức văn học, cũng như về loại hình văn học nhưng lại có rất nhiều mối quan hệ. Từ rất sớm người ta đã nhận ra mối quan hệ giữa “Li Tao” và “Kinh Thi”, như Lưu An thời Hán Vũ Đế cho rằng: “ Quốc Phong hiếu sắc nhưng không dâm, Tiểu Nhã oán thán nhưng không loạn, như “Li Tao” bao gồm cả hai điều đó”, Vương Dật thời cuối thời Đông Hán, làm “Sở từ chương cú”, thì từ góc độ thủ pháp “tỉ” , “hứng”, để đưa ra mối quan hệ giữa Li Tao và Kinh thi. Đến Lưu Hiệp thời Nam Triều, làm “Văn tâm điêu long – Biện tao” khái quát cao độ về mặt lí luận về mối quan hệ giữa Sở Từ và Kinh Thi. Có thể khái quát sự tiếp nhận đó ở một số luận điểm sau:
Thứ nhất, về kết cấu tác phẩm, Li Tao có kết cấu tương đối giống với “Đại Nhã – Sinh dân” trong Kinh Thi. Cả “Sinh dân” và “Li Tao” đều theo lịch trình tứ sinh ra đến khi qua đời của một người, và lịch trình sinh mệnh của một nhân vật chủ thể có quan hệ mật thiết đối với sự hưng suy của một dân tộc. “ Sinh dân” thuật lại cuộc đời của Hậu Tắc thủy tổ nhà Chu, từ lúc bà Khương Nguyên dẫm phải dấu chân thần mà có mang, đẻ ra Hậu Tắc, không dám nuôi, đem vứt bỏ không được đành phải nuôi, về sau Hậu Tắc là người dạy cho dân trồng trọt. Li Tao đã thuật lại cuộc đời của chính tác giả từ khi sinh ra đã có “nội mĩ”, lớn lên muốn theo đuổi thực hiện tư tưởng “mỹ chính”, nhưng thực tế nghiệt ngã không thực hiện được ông thực hiện những cuộc vui chơi trên trời xuống đất , và cuối cùng là tuyệt vọng và nguyện chết cho lí tưởng của mình. Cả hai tác phẩm đều nổi bật nghệ thuật hòa trộn giữa nhân tính và thần tính, sự thống nhất giữa tinh thần hiện thực với sắc thái lãng mạn.
Nhưng văn học dân gian là những sáng tác của quần chúng nhân dân lao động, được tập thể bổ sung hoàn thiện, người ta coi trọng nội dung tình cảm trong thơ ca hơn là coi trọng yếu tố đặc thù hay yếu tố nghệ thuật bao hàm trong bản thân tác phẩm ấy. Vì thế tính hoàn chỉnh và tính thống nhất của kết cấu thông thường chưa từng được có được sự chú ý theo ý thức tương đối tự giác.
Hơn nữa, xưa nay trong lúc mọi người tiến hành sáng tác nghệ thuật, thường sử dụng hai loại khuynh hướng thẩm mĩ cơ bản hoặc là phản ánh cuộc sống khách quan hoặc là bộc bạch tình cảm chủ quan. Nhìn Từ góc độc loại hình văn học, “Sinh dân’ và “Li Tao” phân biệt giữa thơ tự sự và thơ trữ tình. Vì thế cho dù giữa hai loại đó tồn tại rất nhiều sự thống nhất, như đều hình thành kết cấu nghệ thuật rõ ràng hoàn thiện, đều đã hòa trộn mật thiết nhân tố thần tính và nhân tố nhân tính…Nhưng mà vì loại hình văn học không giống nhau hình thành nên sự có những điểm nhìn khác nhau cuối cùng hình thành nên khuynh hướng thẩm mĩ và phong cách nghệ thuật khác nhau, Sinh dân thơ tự sự có điểm nhìn khách quan, bên ngoài, lấy ngữ điệu trần thuật để kể về cuộc đời của Hậu Tắc. Hình tượng Hậu Tắc, tuy trong tác phẩm có yếu tố thần kì nhưng đó là từ sự thực lịch sử khách quan bày bố thêm, không giống với sự vận dụng một cách tự giác các yếu tố thần thoại truyền thuyết làm đề tài để mong muốn hình thành nên phong cách lãng mạn thần bí. Trong thơ tuy đã biểu đạt được tình cảm, lí tưởng và nguyện vọng của bản thân tác giả nhưng đó là “sự vô ý thức tập thể” tự hình thành trong quá trình phát triển của tình tiết tác phẩm, không giống nhà thơ trữ tình dùng trí não mang đến tính cá thể và tính tự giác. “Li Tao” tuy là dựa vào số phận của một con người và tình cảm hiện thực của nhà thơ, lại không hoàn toàn đồng nhất với thực tế cuộc sống của nhà thơ Khuất Nguyên. Như Lưu Hiệp nói “những điều Khuất Nguyên nói về Hậu Nghệ, Quá Kiên, Hai Diên đều không phù hợp với Tả truyện, nói chuyện núi Côn Lôn, đình Huyền Phố là điều các kinh không chép, nhưng lời văn hoa lệ làm chủ của các nhà từ, phú” , chính là nhận xét về những yếu tố phi hiện thực của văn chương, khác biệt với góc độ văn học hiện thực của Kinh Thi.
Về câu thức, Kinh Thi lấy thể 4 chữ làm chính trong khi Li Tao sử dụng hình thức thơ 6 chữ là chủ yếu (không tình ngữ khí “兮” trong đó). Tuy nhiên, thơ 4 chữ Kinh Thi cứ hai câu thơ mới có 1 động từ, cấu thành một câu tự nhiên có ý nghĩa hoàn chỉnh, trong “Li Tao” thì cứ một câu thơ là có một động từ và tạo thành một câu tự nhiên. Vì thế, nếu nhìn từ một câu thơ thì hình thức câu của Li Tao dài hơn, nhưng nếu xem từ ý nghĩa hoàn chỉnh của từng câu thì Li Tao lại dùng chữ ít hơn. Về tiết tấu trong câu, kết cấu thơ 5, 6 chữ đã phá vỡ hình thức 2/2 đơn điệu của thơ 4 chữ, biến hóa phong phú hơn, hoạt bát hơn. Thơ 5 chữ đa phần là 3/2, nhưng cũng có 2/3.
Đặc biệt, sự vận dụng chữ “兮” có thể nói là đã trở thành một đặc trưng nghệ thuật của Li Tao. Ngữ khí từ “兮” giống như “a” ngày nay, trong một số bài Kinh Thi đã có sử dụng, nhưng số lượng ít, phương pháp sử dụng đơn giản, và có thể thay thế chữ “兮” với các ngữ khí từ tương đương như “hĩ”, “chỉ”, “tư”, “dã”, “kì”…Chữ “兮” trong Li Tao đã được sử dụng có quy luật, đặt giữa hai câu, là dấu viết còn lại của thể ca.. Chữ hề trong Li Tao, và có tác dụng biến đổi tiết tấu, tạo nhịp điệu cho nhẹ nhàng linh hoạt, có tác dụng biểu tình đạt ý
Nếu như nói, sinh dân vói 8 chương 72 câu có thể xem là một trong những tác phẩm dài nhất trong Kinh Thi, vậy thì “Li Tao” với toàn bài 374 câu với 2477 chữ thì không còn nghi ngờ gì nưa đó là tác phẩm dài nhất của Sở từ. Li Tao đã tiếp nhận đỉnh cao nhất thơ trữ tình trong lịch sử văn học Trung Quốc, dung lượng đó chưa có tác phẩm trữ tình nào có thể vượt qua. Độ dài của bài này vượt xa so với sinh dân là tình cảm cảm xúc tràn trề hơn so với sinh dân. Về cơ bản trình độ ngôn ngữ và hình thức văn thể đã đạt đến trình độ cao. Thể hiện ý tức thẩm mĩ tự giác và nghệ thuật thiên tài của thi nhân.
Về nghệ thuật, Li Tao đã tiếp thu phú, tỉ, hứng của Kinh Thi và đưa nó phát triển đến một trình độ mới. Đặc biệt thủ pháp tỉ đã được mở rộng để thể hiện tấm lòng trung trinh của tác giả với quân vương. Có thể nói toàn tác phẩm luôn sử dụng phương thức đối xứng, bằng cách so sánh trực tiếp hay gián tiếp, thông qua những hình ảnh bóng bẩy, cũng như các quan hệ thân thuộc vợ chồng để nói đền quan hệ giữa kẻ bề tôi với bậc quân vương, và thể hiện nỗi phẫn uất khi tín mà bị nghi ngờ, trung mà bị ruồng bỏ.
Bên cạnh Kinh Thi, Li Tao còn tiếp nhận những yếu tố trong không gian văn hóa nước Sở. Trước hết, dễ nhận thấy đó chính là Li Tao được làm bằng phương ngôn nước Sở, cho nên có thể chắc chắn rằng tiết tấu nhịp điệu của tác phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với ngữ âm đất Sở.Việc Khuất Nguyên sử dụng phương ngôn nước Sở đã tăng cường tính hình tượng và tính sinh động của thi ca. Tiếp đó là những ảnh hưởng của ca dao dân gian nước Sở, có thể nói Cửu ca là nguồn gốc trực tiếp của yếu tố lãng mạn trữ tình của Li Tao. Cửu Ca đã cung cấp hai hình ảnh nghệ thuật nổi bật trong Li Tao là hương thảo và mĩ nhân, hai hình ảnh này có mối quan hệ trực tiếp với phong tục “tin vu thuật, trọng tế tự một cách thái quá” của nước Sở. Chính khi biên soạn Cửu ca một bài tế lễ dân gian đã tác động đến thủ pháp xây dựng hình tượng nghệ thuật trung tâm. Đó là lí do tại sao trong thời kì ở phương Bắc Kinh Thi đang có ảnh hưởng rất mạnh mà Khuất Nguyên lại sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn.
Như trên đã phân tích, Li Tao đã tiếp thu và phát triển những thành tựu của văn học dân gian là Kinh Thi và ca dao nước Sở. Khuất Nguyên là một trong những người mở đầu cho nền văn học viết của Trung Quốc, đánh dấu sự trưởng thành về nhận thức trong sáng tác văn học. Trong Li Tao , hình tượng nhân vật trữ tính cao ngạo, thanh khiết, căm nghét bọn dốt nát, xu nịnh và một thái độ kiên quyết nguyện chết vì lí tưởng về sau trở thành một biểu trưng cho tấm lòng trung trinh của các nhà Nho. Bên cạnh đó là những đóng góp về tư tưởng như “mĩ chính”, tiến bộ phù hợp với sự phát triển của lịch sử. Về mặt hình thức, Li Tao đã mở đầu đầu cho sự trải rộng dung lượng của tác phẩm, là tiền đề cho sự ra đời và phát triển huy hoàng thời Hán.
Đặt Li Tao trong mối quan hệ tuyến tính với Kinh Thi, ca dao nước Sở và văn học thời Tần Hàn giúp ta hình dung được địa vị của Li Tao trên tiến trình lịch sử văn học Trung Quốc. Chính nhờ tiếp thu các yếu tố dân gian cũng như đưa nó lên một trình độ mới, Li Tao đã góp phần nâng địa vị của Sở từ và tên tuổi của Khuất Nguyên và trở thành ngọn nguồn của thơ ca lãng mạn Trung Quốc.
Nét cách tân trong thơ Tú Xương
Đất Thành Nam có hai đặc sản rất độc đáo, đó là chuối ngự và thơ Xương. Tương truyền ngay từ đời Trần chuối ngự được coi là đặc sản tiến vua. Đó là giống chuối nhỏ, mỗi quả chỉ bằng ngón tay cái nhưng màu chuối chín vàng rộm rất đẹp, cũng rất thơm, đã ăn rồi là khó quên hương vị. Thơ Xương chính là thơ Trần Tế Xương, một giọng thơ trào phúng đầu tiên của văn học Việt Nam sống vào cuối thế kỉ 19. Thơ Tú Xương không có cái vẻ bề ngoài bắt mắt giống như chuối ngự, hương vị cũng không ngọt ngào mà chỉ chua chát. Ngẫm lại trong văn chương để được lưu truyền hậu thế phải là cái gì đó thật tròn trịa, thật lưu loát, hoặc là cái gì đó thật khô ráp sần sùi. Cho nên chính cái giọng trào lộng đó lại hấp dẫn độc giả.
Giai đoạn cuối thế kỉ 19 là giai đoạn cuối cùng của dòng văn chương trung đại. Đây là giai đoạn tổng kết cho văn chương truyền thống và xây dựng những tiền đề cho văn chương hiện đại. Thơ Tú Xương bên cạnh mang đầy đủ những đặc điểm của văn học trung đại, đã bước đầu mang có những điểm của văn chương đổi mới. Để đánh giá vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng của Tú Xương trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam trước hết ta đi vào tính chất trào phúng trong thơ ông.
Văn học trào phúng đánh dấu sự phát triển của văn học Việt Nam, giống như một đứa trẻ chỉ khi đã đủ lớn thì mới biết cười, và để có được tiếng cười trào phúng lại phải đợi đến khi nó thực sự trưởng thành, có đủ nhận thức về ngang trái của cuộc sống, có ý thức vị trí cá nhân trong xã hội. Có thể nói phải đến thế kỉ thứ 19, khi con người cá nhân trong văn chương đã trưởng thành về nhận thức và trong thời buổi giao thời chứa đựng những mầm mống của một cuộc cách mạng xã hội thì văn chương trào phúng mới được khai sinh. Tú Xương có ảnh hưởng sâu đậm của cái cũ, lại bị cái mới tác động mạnh mẽ, bất giác sẽ nảy sinh thái độ “khinh khỉnh” của ông. Chất trào phúng trong thơ Tú Xương bắt nguồn từ đặc điểm của hệ thống tư tưởng ảnh hưởng đến sáng tác văn học trung đại Viêt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ 19.
Đầu tiên, nói về Nho giáo, một hệ tư tưởng mang tính truyền thống, có lịch sử tồn tại lâu đời trong xã hội nước ta. Nho giáo chính thức được truyền vào nước ta vào khoảng thế kỉ thứ 2, sau đó trải qua thời kì Bắc thuộc với những chính sách đồng hóa, Nho giáo đã ăn nhập một cách gắn bó trong đời sống tư tưởng của nhân dân. Từ khi nhà nước phong kiến độc lập ra đời, với những ưu điểm trong việc ổn định trật tự xã hội, triều đình ra sức củng cố Nho giáo. Đến thời Lê – đỉnh cao của xã hội phong kiến, Nho giáo đã đạt đến cực thịnh, thậm chí vào thời vua Lê Thánh Tông Nho giáo còn chiếm vị trí độc tôn. Những thế kỉ tiếp theo, xã hội phong kiến bước vào giai đoạn suy đồi, vì thế Nho giáo có phần giảm sút, người ta bắt đầu có những hoài nghi đối với tính chuẩn mực của Nho giáo. Đầu thế kỉ 19, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, chấm dứt thời kì chia cắt kéo dài trong quá khứ, nhà nước phong kiến có được sự ổn định về hình thức. Nhà Nguyễn mong muốn đưa Nho giáo trở lại thời kì hưng thịnh như thời Lê, vì thế trong giai đoạn này Nho giáo lại được chấn khởi trở lại. Triều đình nỗ lực triển khoa giáo dục Nho học, cho in ấn lượng lớn kinh điển Nho giáo, sùng Khổng Tử hơn trước, tăng cường hoạt động tuyên truyền các quan niệm tư tưởng trung quân ái quốc và đạo hiếu. Đến nửa cuối thế kỉ khi thực dân Pháp xâm lược, tích cực tuyên truyền tư tưởng và tôn giáo phương tây, thì Nho giáo đã bộc lộ một số yếu kém, kìm hãm sự phát triển của xã hội, ngay cả vua cũng cảm thấy văn chương khoa cử không thể đào tạo nên nhân tài hữu dụng cho xã hội, song các Nho sĩ tử thủ hư văn, khó lòng thay đổi. Vì thế ảnh hưởng của Nho giáo hàng nghìn năm không dễ phai nhạt. Hơn nữa vào giai đoạn này, Việt Nam vẫn là một nước phong kiến, trong xã hội vẫn tồn tại một lực lượng đông đảo vốn xuất thân “từ cửa Khổng , sân Trình”, mang tư tưởng “trí quân trạch dân”. Cho nên Nho giáo vẫn là tư tưởng chủ đạo trong đời sống xã hội thời kì này.
Văn hóa Nho giáo – một thứ “văn hóa xấu hổ”, nhằm thức tỉnh lòng tu ố của con người, để con người tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội. Xã hội đó rất trọng cái danh, “danh bất chính, tắc ngôn bất thuận”, cho nên “nam nhi vị liễu công danh trái; tu thính nhân gian thuyết vũ hầu” . Chính vì thế trong giai đoạn này vẫn còn những nhà Nho “xịn”, ngày đêm dùi mài kinh sử để mong ngày “hiển danh” để ra giúp vua, giúp nước. Vì thế Tú Xương cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng đó, cho nên ông cũng quyết một lần “vinh quy” :
“Ta phải trả xong cái nợ ta
Lẽ đâu chịu nợ mãi ru mà”
….
“Mở mắt quyết cho vua chúa biết
Đua danh kẻo nữa mẹ cha già.”
Thế nhưng thời thế đổi khác, năm 1858, sau khi đã nghiên cứu khá kĩ đặc điểm xã hội, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam. Bên cạnh những chính sách về chính trị, thực dân Pháp thực hiện những chính sách về văn hóa để tăng sự ảnh hưởng của người Pháp đến xã hội nước ta. Cùng với hàng hóa mới là lối sống mới, lối học mới, suy nghĩ mới được đưa vào đời sống xã hội. Chính sự hình thành của đô thị phong kiến phương đông, và sự ra đời của tầng lớp thị dân với tư tưởng và thị hiếu khác nhà Nho, cùng với tâm lí thời đại, tâm lí dân tộc tự chủ đã thực sự thu hút được những nhà Nho tài tử muốn thế hiện cái tôi, sự ý thức về cá nhân. Trước đây lựa chọn Nho giáo làm ý thức hệ tư tưởng có nghĩa là bước đầu tiên con người ý thức tới trách nhiệm, bổn phận của cá nhân trước tập thể cũng như sự tự ý thức về bản ngã. Sự thức dậy của ý thức cá nhân với ý nghĩa như một bản ngã độc lập phải đợi đến thế kỉ 18 dưới những tác động của từ nhiều phía trong đời sống xã hội và văn hóa mới hình thành. Con người cá nhân thức tỉnh và tự khẳng định mình bằng mọi cách, mà trước hết là những giá trị cá nhân. Nói như Trần Đình Hượu “Khi bộ cánh luân thường đã rách bươm, danh phận mờ mịt con người cá nhân hiện ra trần trụi”. Trong giai đoạn văn học này xuất hiện một thế hệ sống ngang tàng nằm ngoài khuôn phép. Luồng gió mới từ phương Tây thổi tới, mang theo những thứ lạ lẫm, mà khi chưa quen thì coi nó thật lố bịch, hợm hĩnh. Và đối với những nhà Nho vốn ôm ấp tư tưởng của Khổng Mạnh thì đời sống phương Tây hóa càng “chướng tai, gai mắt”. Người ta nói rằng, Tú Xương học hành tử bé, rất chăm chỉ và rất thông minh. Thế nhưng hoạn lộ của ông không mấy suôn sẻ, công phu mười năm đèn sách, tám lần lều chõng nhưng chỉ đỗ tú tài:
Rõ thực nôm hay mà chữ dốt
Tám năm chưa khỏi phạm trường quy
(Buồn hỏng thi)
“Thế mới biết học tài thi phận, miệng đàn bà con trẻ thế mà thiêng
Nào ai gờ chữ tốt văn hay, tài bảng nhãn thám hoa lỡ ra cũng hỏng.”
(Phú hỏng thi năm Canh Tý (1900))
Vào thời điểm này, tuy đã có sự biến đổi nhưng mà triều đình mục nát, hiện tượng “sinh đồ ba quan” ở thế kỉ trước càng phổ biến hơn. Đạo học suy vi, lòng người thất vọng. Cảm giác thất vọng hòa lẫn với cái cao ngạo của nhà Nho thế là bật thành tiếng cười trào phúng trong thơ ông. Ông cười tất cả mọi thứ, từ vấn đề lớn như cái danh ảo do mua mà có, đến cái cái danh “tú tài” “có tiếng mà không có miếng” của mình. Chất trào phúng thể hiện rất phong phú, từ đề tài phú hỏng thi, phú thầy đồ dạy học đến chế người thi đỗ…
Trước hết về phương diện nội dung trong thơ Tú Xương có sự vận động của hệ thống chủ đề – đề tài và hình tượng văn học trung tâm. Trần Tế Xương có hướng nâng cao xã hội hóa, dân chủ hóa đề tài . Không còn là những chủ đề thể hiện tấm lòng “minh triết bảo thân”, hay đề cao luân thường đạo lí của đạo đức phong kiến. Không còn là kiểu lấy cảnh ngụ tình như văn thơ đời trước mà là nhìn thẳng nói thẳng. Tú Xương là một trong số ít tác giả trong văn thơ trung đại hầu như không viết về thiên nhiên. Chủ đề – đề tài trong thơ ông mang đậm chất hiện thực. Từ việc người ta học gì chơi gì, đến chuyện đời thường của chính nhà thơ. Nhân vật trong thơ Tú Xương là những cá nhân riêng cụ thể, là những con người có đủ danh phận, không còn là những nhân vật theo loại như trước kia. Vì thế ông không úp úp mở mở, nói bóng nói gió bình phẩm ai mà ông nhìn thẳng nói thẳng. Tổng quát hóa thơ Tú Xương có ba đề tài chính là là bức tranh Tây hóa, hình ảnh người phụ nữ và hình ảnh những nhà Nho trong xã hội đảo điên này.
Về phương diện nghệ thuật, trong thơ Tú Xương hình tượng nghệ thuật được xây dựng trên chất liệu hiện thực. Tất cả được đưa vào trong thơ ca không chút gọt giũa, nhà thơ đã để nó sần sùi khô ráp bước vào thơ văn. Chất trào phúng được thể hiện trong việc ông “khẩu ngữ hóa” văn chương, những câu những chữ được sử dụng rất ngông nghênh :
Văn chương nào phải là đơn thuốc
Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu
(Ông cử Nhu)
Có những chữ ông dùng rất xếch mé:
Ngủ quách sự đời thây kẻ thức
Chùa đâu chú trọc đã khua chuông
Mất đi cái học tầm chương trích cú, sính vận cổ với những lời lẽ rất thâm thúy, thay vào đó là sự nôm na gần gũi nhưng vẫn rất thơ – thơ trào phúng. Không còn là những “ lời vàng ý ngọc” trau truốt, sao cho văn như những bản nhạc du dương mà là những vần thơ bốp chát:
Ý hẳn thịt xôi lèn chặt dạ
Cho nên con tự mới thòi ra.
(Ngày xuân của làng thơ)
Sự thay đổi trong ngôn ngữ thơ đã có từ thơ Hồ Xuân Hương, nhưng đó là ngôn ngữ “vênh váo” của một người phụ nữ muốn khẳng định vị trí trong xã hội nam quyền. Cái mà Xuân Hương muốn thể hiện chỉ “chủ nghĩa nam nữ bình quyền”, và thuộc về “nữ quyền học”. Còn Tú Xương đó là sự “phá bĩnh” của một nhà Nho đang mất dần niềm tin với Nho giáo, là sự phản ứng với những thay đổi mau chóng của thời cuộc. Và cũng nhận thấy rằng, tuy mất niềm tin nhưng Tú Xương chưa từng có ý thức chống lại Nho giáo, tuy phán ứng với thực dân nhưng Tú Xương cũng chưa lên tiếng chống lại tư tưởng phương Tây, có chăng chỉ là sự nhạo báng xã hội “lai căng” “Tây hóa” mà thôi. Cho nên cũng có thể hiểu rằng cách nói ngông nghênh trào phúng đó của Tú Xương xuất phát từ sự mất phương hướng trong tư tưởng.
Thống nhất trong các sáng tác giả luôn tự xưng là “ông”, không phải là “ta” thế hiện sự thống nhất của những cá thể trong xã hội “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ; người khôn người tới chỗ lao xao” (Nguyễn Bỉnh Khiêm), mà là “ông” để tách riêng mỗi cá thể trong xã hội, để tự khẳng định giá trị của cá nhân. Sau này trong văn học hiện đại là những đại từ “tôi”, “anh”, “em”.
Bên cạnh những giá trị về văn chương trào phúng, tính hiện thực trong thơ Tú Xương thể hiện hết sức sâu săc. Những sáng tác của ông là một bức tranh sinh động về xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Đó là một xã hội thành thị, đề cao giá trị của đồng tiền:
Chữ “y”, chữ “triện” không phê đến
Ông chỉ phê ngay một chữ tiền
Xã hội của đồng tiền xuất phát từ sự mục nát của xã hội phong kiến, sự suy đồi nhân cách của những người lãnh đạo. Xã hội ấy đã có từ trước cứ theo đà đó mà phát triển. Bạch Vân cư sĩ từng viết:
“Còn bạc còn tiền còn đề tử
Hết bạc, hết tiền, hết ông tôi”
Đến thời điểm hiện tại, khi kinh tế thị trường bắt đầu du nhập vào nước ta, thì những xấu xa của nó càng bộc lộ rõ.
Kẻ yêu người ghét hay gì chứ
Đứa trọng thằng khinh chỉ vị tiền
( Thói đời)
Trong xã hội ấy những giá trị bị tác động. Trước những tác động của chính sách văn hóa của thực dân Pháp, Nho giáo trở thành đối tượng bị tác động đầu tiên.Những năm cuối thế kỉ 19, học thuật của xã hội Việt Nam đang có những biến đổi cực kì sâu sắc. Những ấn tượng về sự tha hóa trong Nho giáo hết sức sâu sắc trong thơ, ông đau lòng khi chứng kiến “môn nhân” tự phỉ báng đạo mình :
Sơ khảo khoa này bác cử Nhu
Thực là vừa dốt lại vừa ngu.
Văn chương nào phải là đơn thuốc
Chở có khuyên xằng chết bỏ bu.
(Ông cử Nhu)
Người ta không chuyên tâm theo Hán học nữa, mà học nhiều cái mới: học chữ Tây, học chữ quốc ngữ, cả học chữ tàu, đó mới là thời thượng. Ngay cả Tú Xương đã có lúc “muốn bỏ văn chương học võ liền”. Những cái học khác có vẻ dễ dàng hơn “chẳng sang tàu cũng tếch sang Tây”. Người ta đua nhau bỏ Hán sang Tây:
Mợ bảo vần Tây chẳng khó gì
Cho tiền đi học để chờ thi
Thôi thôi lạy mợ “xờ-căng” lạy
Mả tổ tôi không táng bút chì
(Không học vần tây)
Từ những vấn đề của trường thi, của khoa cử, đến vấn đề về đạo đức văn hóa. Xu hướng Tây hóa bắt đầu hình thành, người ta học chữ Tây, làm việc cho Tây, lấy chồng Tây. Những giá trị đạo đức truyền thống trong xã hội thay đổi. Bức tranh chuyển mình của xã hội trong một thành thị thu nhỏ, tất cả trở nên nhố nhăng:
Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng
(Đất Vị hoàng)
Còn đâu đạo phụ quân thần, phụ tử, phu phụ mà nhà Nho tôn thờ, còn đâu cái gọi là cương thường, rường cột của xã hội. Lối sống Tây hóa đang ảnh hưởng đến cuộc sống của người thành thị, chỉ đến thế kỉ này thì mới những cái thú chơi như thế. Lối sống Pháp đang làm cho những lối sống truyền thống dần bị mai một :
Răng chẳng nhuộm, vợ chẳng lấy, lụa là chẳng mặc
Mán chỉ làm đủ tiền tiêu vặt
Khi cao lâu, khi cà phê, khi nước đá, khi thuốc là, khi đủng đỉnh ngồi xe
Sự đời Mán chẳng buồn nghe
Nhuộm răng đen vốn là biểu tượng cho văn hóa Việt. Trong phong trào Tây Sơn lời hiệu triệu của Nguyễn Huệ khi đánh Thanh là :
“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng”
Nhưng ngày nay âu hóa người ta “chẳng nhuộm răng để trắng dễ cười đời”, đó là dấu hiệu đâu tiên cho những cách tân trong lối sống của người Việt trong thế kỉ 20. Người ta nhận xét rằng chưa từng ở đất nước nào, trong vòng chưa đầy một thế kỉ (cuối thế kỉ19, giữa thế kỉ 20) mà đất nước có sự chuyển mình nhanh đến như vậy. Trong tất các lĩnh vực từ ngôn ngữ, giáo dục, văn học nghệ thuật…đến chính trị . Phải đến thế kỉ này thì trong văn chương mới có hình ảnh con người cá nhân tự do đến thế. Con người không còn bị cái trung hiếu bủa vây, không còn bị quan niệm “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” kiềm tỏa. Người ta biết đến cà phê, nước đá, thuốc lá, xe hơi. “Sáng rượu sâm banh tối sữa bò”.
Trong khung cảnh xã hội đó có hai hình ảnh hết sức tiều biểu và sinh động , đó là hình ảnh người phụ nữ hiện đương đại và những nhà Nho “bất đắc chí”. Những nhà Nho là sản phẩm dư thừa của xã hội cũ, còn những cô gái là sản phẩm của xã hội đương đại. Tú Xương để họ cạnh nhau làm tăng giá trị phản ánh hiện thực của những sáng tác của ông.
Về số phận của những nhà Nho trong buổi giao thời, Tú Xương có những khắc họa rất sinh động. Cả dân tộc vùng nên chống kẻ thù xâm lược, trong đội ngũ nhà nho có sự phân hoá: người theo Pháp, người chống Pháp, người thì trung lập vì khủng hoảng tư tưởng. Có những nhà Nho hăng hái chống giặc, nhưng rồi vì những hạn chế lịch sử nên chưa giành được thắng lợi, trong sự bế tắc và bất lực họ lánh vào cái tôi đầy ấm ức, để tự cười mình, tự xỉ vả mình, có ý thức xót xa về phẩm giá nhân cách của mình trong thời loạn. Dòng văn chương trào phúng được khai sinh, họ ẩn vào những cái cười hể hả là những giọt nước mắt đau đớn của tác giả với thời đại. Bức tranh của những nhà Nho – những người đang dần trở thành “những người muôn năm cũ” thể hiện chân thực và sinh động trong những trang thơ Tú Xương. Đó là cuộc sống của một ông “tú tài”, một ông quan ăn lương vợ.
“Lương vợ ngô khoai tháng phát dần”
(tự trào)
Những người mong “giữ vững cột càn khôn”, nhưng vì vô duyên với trường thi :
Hẳn có kẻ lo toan việc nước, vua chửa dùng tài
Hay không ai dạy dỗ đàn con, trời còn bắt hỏng
“Tiến vi quan đạt vi sư”, vì thế không ít người lỡ dở chốn quan trường trở về làm những cụ đồ nho ở xóm làng. Tú Xương tự chế diễu thân phận thầy đồ của mình Đó là lời lẽ của một kẻ sĩ bất đắc chí, có phần ngang ngạnh và tủi hổ:
Văn có hay đã đỗ làm quan, võng điều võng tía
Võ có giỏi đã ra giúp nước, khố đỏ khố xanh
Ý hẳn thầy văn dốt vũ dát
Lại vừa gàn vừa dở, cho nên thầy luẩn quẩn loanh quanh
(Phú thầy đồ dạy học)
Văn chương trung đại đã từng có “hàn nho phong vị phú” ngợi ca những phong vị của cảnh nghèo. Ở đây ta bắt gặp lại một cuộc sống khồn khó của một hàn nho, nhưng cái nghèo ở đây trở thành nỗi ám ảnh trong tâm chí và đầy day dứt. Những cảnh gán nhà, chạy gạo nhiều lần xuất hiện :
Hỏi vợ vợ còn đi chạy gạo
(đau mắt)
Van nợ lắm khi trào nước mắt
Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi
(than nghèo)
Khách hỏi nhà ông đến
Nhà ông đã bán rồi
Không còn dáng vẻ lạnh lùng giống như khuôn hình của những nho gia thế kỉ trước, nhà thơ cũng điên lên vì nghèo đói “Bực chí anh hùng lúc túng tiêu” .Thậm chí trong lúc túng quẫn ông còn tếu táo bán cả những thứ không bán được :
“Danh giá nhường này không lẽ bán”
“Lúc túng toan lên bán cả trời”.
Cũng không còn cái thanh đạm vật chất “một giỏ cơm, một bầu rượu” để giàu về đạo giống như Nhan Hồi. Nhà Nho bị cuốn vào cuộc đảo điên của xã hội.
Thế nhưng nghèo khó nhưng ông vẫn ăn chơi. Xã hội đang đảo điên vì ngọn gió Tây, xuất hiện những tiểu thương, tiểu chủ giàu có học làm sang. Nho gia chân chính, những kẻ sĩ bất đắc chí bị đẩy ra ngoài lìa xã hội, thế là ông lao vào cuộc ăn chơi, nhà Nho ăn chơi phải đúng cách của nhà Nho, phải khác với bọn kinh doanh buôn bán nhiều tiến mà ít học. Tiếp theo Nguyễn Công Trứ với những bài hát nói tả rất chi tiết buổi đi chơi, ta gặp lại dáng vẻ cao ngạo, phóng túng của nhà Nho buổi giao thời trong thơ Tú Xương. Ông hay tếu táo cho tài đổ bác, hát trầu văn của mình.
Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ
Rượu chè trai gái đủ tam khoang.
(Tự cười mình)
Ông đưa những thú vui vào trong thơ một cách mộc mạc không dấu diếm. Trên thực tế nghe hát, xem hát thời nào chẳng có. Thế kỉ trước những buổi đi chơi, tụ họp của nhà Nho thường vóng bóng trong thơ ca. Vì họ còn ràng buộc bởi cái luân thường mà xã hội đang tôn thờ, họ bị ràng buộc bới những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực đến mức khó có thể thật. Nhưng ở thời điểm này lại khác, không có cái gọi là “quân quân, thần thần” như trước thì vì cớ gì mà phải tránh né nữa. Vì thế Tú Xương cao ngạo viết:
Biết chi, cũng chẳng biết gì
Biết ngồi Thống Bảo, biết đi ả đầu
Biết thuốc lá, biết chè tầu
Cao lâu biết vị, thanh lâu biết mùi.
(Hỏi ông trời)
Hình ảnh người phụ nữ trong thơ Tú Xương khác hẳn với những người phụ nữ ta từng gặp trong văn chương trung đại. Những thế kỉ trước trong văn chương người phụ nữ thường ít xuất hiện. Nhà Nho chủ trương viễn nữ sắc: “sắc là giặc đam làm chi”. Cho nên nếu họ xuất hiện là đại diện cho những chướng ngại kiểu như những người đẹp làm khuynh thành khuynh quốc như Điêu Thuyền, Tây Thi…, hay là đại diện cho yêu ma, là mầm mống của hiểm họa như những câu chuyện trong Truyền kì mạn lục. Đến cuối thế kỉ 18, những biến đổi của xã hội đem đến sự vận động trong văn học hướng về cuộc sống chân thực của con người, các nhà nho nhân đạo chủ nghĩa như Nguyễn Du, Đặng Trần Côn đã có những lời bênh vực cho sắc đẹp và đề cao giá trị của người phụ nữ. Thế nhưng cảm hứng chủ đạo trong giai đoạn văn học này là “tài mệnh tương đố”, người phụ nữ hầu hết là những người tài, sắc có mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với giới thượng lưu, với khách phong tình trong xã hội. Đó là những ca nhi, cô đầu , kĩ nữ hay những chinh phụ… Phải đến Tú Xương thì người phụ nữ mới hiện lên đầy màu sắc như thế. Đó là hình ảnh bà Tú “lặn lội mom sông” để chắt chiu tiền bạc “nuôi đủ năm con với một chồng”, là người đảm bảo cuộc sống cho cả gia đình “tiền bạc phó mặc con mụ kiếm”. Rồi hình ảnh những cô gái đi buôn mới thật sinh động. Dưới ngòi bút của Tú Xương cái cô gái buôn thật ghê gớm:
Giời còn bể đó , tùy ngang dọc
Người phải cua đâu, chớ hãi hùng.
Buôn trứng những toan kề cửa lỗ
Sợ còng chẳng dám động chân lông.
(Vịnh cô cáy chợ Rồng)
Cái gọi là “công, dung ,ngôn, hạnh” đang có những thay đổi trong hoàn cảnh mới. Tất nhiên trong mắt của một nhà thơ trào phúng thì có phần cường điệu hóa, nhưng trong buổi đương thời sao có thể có những cô gái sống trong cảnh “êm đêm chướng rủ màn che; tường đông ong bướm đi về mặc ai”, thời cuộc mới đã làm thay đổi con người. Tú Xương đặc biệt để ý đến những cô gái đi buôn và những cô gái lấy chồng Tây. Nói đến buôn bán đã là một cái ác cảm với nhà Nho rồi, lại còn là những cô gái đi buôn thì ấn tượng càng mạnh :
Nước buôn như chị mới ăn người
Chị thấy ai mua chị cũng cười
Chiều khách qua hơn nhà thổ ế
Đắt hàng như thế mớ tôm tươi
Tiền hàng kẻ thiếu , mi thừa đủ
Giá gạo ai năm, tớ vẫn mười
(Gái buôn)
Tây vào nước ta chẳng bao lâu thế mà lấy chồng Tây đã trở thành “mốt” thời thượng. Nhà thơ có cái nhìn xếch mé vời những cô gái lấy chồng Tây:
Hẩu lố, khách đà ba bảy chú
Mét xì , tây cũng bốn năm ông
(Phòng không)
Cô Kí sao mà đã chết ngay
Ô hay, trời chẳng nể ông Tây
…..
Gớm thay cho những cô con gái
Mà vẫn đua nhau lấy các thầy.
(Mồng hai tết, viếng cô Kí)
Hình ảnh những cô gái đang bắt nhịp cùng thời đại, thật mới lạ trong văn chương. Tuy rằng với ngòi bút trào phúng thì họ hiện ra chẳng mấy tươi đẹp, nhưng trong một xã hội phương Đông gần 10 thế kỉ qua, phụ nữ ẩn mình trong chốn “hương vi”, và bị nhà Nho trói buộc trong hai chữ “tiết hạnh”, thì các cô đã mang đến một vận động lớn cho văn học. Các cô thật khác lạ với văn chương đài các, văn chương cử tử nhưng lại có phần gần gũi với văn chương bình dân.
Một trong những cảm hứng quan trọng thời kì này là cảm hứng yêu nước. Lồng ghép trong văn chương trào phúng với những bức tranh sinh động về cuộc sống con người là tấm lòng yêu nước của tác giả. Tuy nhiên tình cảm yêu nước của nhà thơ được thể hiện rất thầm kín, ông không có những lời đanh thép như Nguyễn Trãi “bui có một lòng trung lẫn hiếu; mài không khuyết nhuộm không đen”, không phải là thể hiện trực tiếp “đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông” mà đó là lòng yêu nước được ẩn sâu trong những tiếng cười chua xót, trong những hoài niệm của nhà thơ . Ông thương xót số phận của con người, thương cho những người nghèo trong xã hội thực dân :
Họ đầy đọa mãi dân cày cuốc
Ai xét soi cho cảnh học trò
(Thề với người ăn xin)
Đôi khi được thể hiện trong những cái giật mình trong đêm “Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”, hay sự trằn trọc “Việc gì mà thức một mình ta”. Hay trong thắc mắc rất đơn giản:
“Nghe nói miền Nam trời đại hạn
Sao không san nước để cho vừa”
(lụt năm Bình Ngọ)
“Nhân tài đất bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”
Tấm lòng yêu nước còn thể hiện trong những phiền muộn, bực tức :
Người bảo ông điên, ông chẳng điên
Ông thương, ông tiếc, ông hóa phiền,
(Thói đời)
Thái độ bất hợp tác với thực dân Pháp, đau lòng với thực tại, Tú Xương không ít lần muốn chạy trốn. Ông muốn “đui con mắt” như Nguyễn Đình Chiểu :
Muốn mù trời chẳng cho mù
Giương mắt trông chi buổi bạc tình
( Đau mắt)
Hay tìm sự vỗ về của tôn giáo, để lẩn tránh thực tại, quên đi thực tế:
Gần chùa gần cảnh ta tu quách
Cửa phật quanh năm sẵn áo sồng
Tinh thần yêu nước của Tú Xương thể hiện rất phong phú với rất nhiều trạng thái cảm xúc. Nhưng đáng chú ý nhất ở Tú Xương tuyệt nhiên không còn tâm trạng chờ đợi “trông tin quan như trời hạn trông mưa”, với những thắc mắc “hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng” (Nguyễn Đình Chiểu) giống như những nhà Nho khác. Trong văn chương trung đại chủ đề trung quân ái quốc thường gắn liền với nhau:
“Sống đánh giặc thác cũng đánh giặc
Sống thờ vua, thác cũng thời vua”
(Nguyễn Đình Chiểu)
Trong thơ Tú Xương không còn hình ảnh quân vương trong vai trò dẹp loạn. Ông cũng chưa một lần đề cập đến chuyện đánh Tây, mà ông có tâm lí chở đợi kết cục của những cuộc chuyển vần này ra sao:
“Sống lâu, lâu để làm gì nhỉ
Lâu để mà xem cuộc chuyển vần.
Tú Xương nổi bật với dòng văn chương trào phúng, ông không giống như những nhà thơ yêu nước đương thời hướng ngòi bút vào ngợi ca lòng yêu nước của nhân dân. Không như Nguyễn Đình Chiểu để chống lại những dòng tư tưởng mà Pháp đang tích cực tuyên truyền, ông quay về cố thủ trong tư tưởng Nho giáo, khẳng định những giá trị truyền thống của Nho giáo. Tú Xương đã nhìn thẳng vào thực trạng suy vi của Nho giáo và sự đồi bại của một số nhà Nho. Nếu như Nguyễn Đình Chiểu nhà văn thơ yêu nước của Nam Bộ hướng vào ngợi ca tinh thần yêu nước của quần chúng nhân dân, thì Tú Xương lại tìm cách bóc trần những thứ lai căng trong xã hội. Con người thành thị trong mắt ông đang tha hóa về chất. Nhưng có thể nhận thấy, những con người thành thị đó ta còn gặp lại ở những tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, hay Nguyên Hồng. Mỗi văn nhân có một cách nhìn đời, không thể đánh giá ai tích cực ai tiêu cực mà chỉ nhận thấy rằng con mắt nhìn đời xếch mé luôn có sự so sánh với những gì tốt đẹp của cuộc sống. Ông đưa ra những cái lai căng nhưng đồng thời đã ngầm hướng người đọc đến cái bản sắc. Từ đây ta có thể hiếu, tại sao thơ Tú Xương trào lộng thế mà trở thành đặc sắc của vùng đất học Thành Nam.
——————
